Gallery

Tôn vinh Ngụy Văn Thà vậy 64 anh hùng liệt sỹ trong cuộc Hải chiến Trường Sa 1983 nằm ở đâu?

This gallery contains 9 photos.

Ngụy Văn Thà đáng được tôn vinh vậy 64 anh hùng liệt sỹ Hải quân nhân dân Việt Nam hy sinh trong trận Hải Chiến Trường Sa ngày 14/3/1988 không đánh được tôn vinh sao hỡi các nhà rân chủ? … Continue reading

Rate this:

68 NĂM TRUYỀN THỐNG VINH QUANG CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN VIỆT NAM

 Đất nước chúng ta tuy chưa phải là cường quốc, nhưng đất nước chúng ta luôn chiến thắng các cường quốc”. Kế thừa truyền thống oai hùng 4000 năm dựng nước và giữ nước của ông cha ta, dân tộc ta và dưới ánh sáng soi đường của Đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh, của Bác Hồ kính yêu, kể từ khi ra đời và cho đến nay, lực lượng Công An Nhân Dân Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, làm nên biết bao chiến công oanh liệt, góp phần to lớn trong sự nghiệp dựng xây và bảo vệ nước nhà.

            Hình thành trong cao trào cách mạng Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 -1931), tổ chức tiền thân của lực lượng Công An Nhân Dân Việt Nam là các đội Tự Vệ Đỏ với sứ mệnh là lực lượng xung kích tiên phong bảo vệ các cơ quan, tổ chức Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ cách mạng, trước sự chống phá, đàn áp điên cuồng của Thực Dân Pháp, Phong kiến, tay sai, đặt nền móng quan trọng cho sự toàn thắng của cách mạng tháng 8 long trời lở đất, rung động năm châu, chấn động địa cầu của dân tộc ta.

 Cách mạng tháng 8/1945 thành công, lịch sử dân tộc ta bước sang trang mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã đứng lên đập tan mọi xiềng xích nô lệ, giành lấy chính quyền. Để bảo vệ thành quả cách mạng to lớn mà nhân dân ta vừa đạt được, các tổ chức Công An Nhân Dân nhanh chóng ra đời ở tất cả các địa phương trong cả nước, Ở Bắc Bộ sau khi chiếm lĩnh Ty Cảnh sát và các quận, đồn cảnh sát của địch, ta đã lập Sở Liêm Phóng và Ty Cảnh sát. Tại Trung bộ, Ủy ban nội vụ Trung bộ quyết định thành lập Sở trinh sát. Ở Nam bộ, ủy ban hành chính lâm thời đã quyết định thành lập Quốc gia tự vệ cuộc. Sự ra đời của lực lượng CAND Việt Nam ngày 19/8/1945 là một tất yếu khách quan. Vừa mới ra đời lực lượng CAND Việt Nam đã bước ngay vào cuộc chiến đấu gian khổ, gay go phức tạp và lập lên những chiến công vô cùng vẻ vang oanh liệt, đã đập tan mọi âm mưu thâm độc và hoạt động của bọn phản cách mạng, bọn gian tặc khác, Lực lượng Công an đã anh dũng mưu trí kịp thời khám phá các âm mưu và hoạt động phá hoại của bọn đặc vụ Tưởng, bọn mật thám gián điệp Pháp câu kết với các loại phản động trong các đảng phái chính trị phản động, tiêu diệt các sào huyệt gây tội ác giết người của chúng, kịp thời đập tan âm mưu gây rối, gây bạo loạn hòng lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân, bảo vệ thắng lợi chính quyền cách mạng non trẻ. Điển hình trong thời gian này lực lượng CAND đã khám phá vụ “Ôn Như Hầu” đập tan âm mưu của bọn quốc dân đảng, đại việt câu kết với thực dân Pháp hòng lật đổ chính phủ cách mạng. Ở nam bộ, với danh nghĩa quân đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật, Tháng 9/1945 quân đội Anh kéo vào Sài gòn và trắng trợn giúp đỡ Thực Dân Pháp xâm lược nước ta lần thứ hai. Những ngày đầu cuộc kháng chiến ở Nam bộ, Quốc gia tự vệ cuộc đã trở thành lực lượng vũ trang chủ yếu của Đảng, nhân dân ta vừa thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân rút ra căn cứ chuẩn bị kháng chiến lâu dài vừa tổ chức các trận chiến đấu vũ trang kìm chân địch, xây dựng cơ sở phá tề trừ gian. Để đáp ứng các yêu cầu cấp bách bảo vệ cách mạng, theo chủ trương của Trung ương Đảng, ngày 21/2/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 23-SL thống nhất các lực lượng Liêm Phóng, Cảnh sát, Trinh sát, Quốc gia tự vệ cuộc trong toàn quốc thành “Việt Nam Công An Vụ”. Đồng chí Lê Giản được giao nhiệm vụ Giám đốc Việt Nam Công An Vụ đầu tiên. Tiếp đó ngày 18/4/1946 Bộ Nội vụ ra quyết định số 121-NĐ về tổ chức Việt Nam Công An Vụ. Nghị định quy định Việt Nam Công An Vụ có 3 cấp: Nha công an Trung ương, Sở công an kỳ, Ty công an tỉnh. Đây là sự kiện lịch sử trọng đại của ngành Công an, đánh dấu sự thống nhất về cơ cấu tổ chức bộ máy Công an trong cả nước, đồng thời thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước trong xây dựng lực lượng Công an, chuẩn bị cho lực lượng CAND bước vào thời kì kháng chiến thắng lợi.

1

Trong chín năm kháng chiến chống Thực Dân Pháp trường kì gian khổ, lực lượng Công an nhân dân vừa chiến đấu vừa xây dựng lực lượng và trưởng thành trong thực tiễn, cùng với sự phân chia cơ cấu hành chính của cả nước thành các khu, ngành Công an cũng khẩn trương điều chỉnh cơ cấu tổ chức theo hướng tinh gọn bộ máy để đảm bảo tính cơ động gọn nhẹ phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ Công an trong tình hình đất nước có chiến tranh. Ngày 5/4/1948 theo Nghị Định số 291/NĐ của Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ Phan Kế Toại, Nha Công An Việt Nam đổi tên thành Nha Công An Trung ương, các khu hợp lại thành các liên khu. Từ năm 1947 đến năm 1953 Nha Công An và sau này là Thứ Bộ Công An và Bộ Công An đã tổ chức được tám cuộc Hội nghị Công an toàn quốc và bốn cuộc Hội nghị chuyên đề nghiệp vụ (Hội nghị điều tra lần thứ nhất do Nha công an tổ chức từ ngày 20-6 đến 4-7-1949, Hội nghị Công an trật tự lần thứ nhất do Nha Công An tổ chức ngày 2-8-1950, Hội nghị trinh sát lần thứ nhất do Thứ Bộ Công An tổ chức từ ngày 25-5 đến 1-6-1953, Hội nghị trị an hành chính lần thứ nhất do Bộ Công An tổ chức từ ngày 4 đến 20-5-1954). Qua các Hội nghị này lực lượng Công an đã tổng kết được nhiều bài học kinh nghiệm về hoạt động nghiệp vụ của mình góp phần ngày càng nâng cao khả năng và kết quả công tác chiến đấu. Về tổ chức bộ máy của lực lượng Công an cũng không ngừng được củng cố hoàn thiện cho phù hợp vơí thực tiễn chiến đấu. Trong các Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ nhất và lần thứ 2, Nghị quyết hội nghị đều ghi rõ là tiếp tục củng cố bộ máy Công an gọn nhẹ, bí mật, phù hợp với tình hình hiện tại. Đặc biệt là tại Hội nghị Công An toàn quốc lần thứ 6 và lần thứ 7 lực lượng Công an đã triển khai hệ thống tổ chức mới và tổng kết rút ra 7 kết luận quan trọng mang tính lý luận nghiệp vụ (đó là kết luận về bảo vệ cơ quan, công tác điều tra nghiên cứu, công tác bắt và xét xử, công tác hỏi cung, công tác quản chế, công tác kiểm soát sự ra vào trong vùng tạm chiếm và vấn đề công an xã), 7 kết luận Hội Nghị được ban Bí thư Trung ương duyệt trở thành định hướng có tính nguyên tắc trong chỉ đạo và hoạt động của lực lượng Công an, toàn lực lượng coi đây là giáo trình căn bản đầu tiên tiến hành các công tác nghiệp vụ sau này. Ngày 16-2-1953 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 141-SL đổi Nha Công An Trung ương thành Thứ Bộ Công An trực thuộc Hội đồng Chính phủ. Đồng chí Trần Quốc Hoàn ủy viên Trung ương Đảng được cử giữ chức Thứ trưởng Thứ Bộ Công an. Trong cuộc họp Hội đồng Chính phủ từ ngày 27-29 tháng 8-1953, dưới sự chủ tọa của Hồ Chủ Tịch, đã quyết định đổi tên Thứ Bộ Công an thành Bộ Công an. Đồng chí Trần Quốc Hoàn ủy viên trung ương Đảng được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Công an, lực lượng Công An ngày càng được củng cố kiện toàn về mọi mặt. Sau Hiệp định Giơnevơ (1954) đất nước ta tạm thời chia thành 2 miền và tiến hành 2 nhiệm vụ chiến lược: Cách mạng XHCN ở miền Bắc và Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Thời kỳ sau khi giải phóng, ở miền Bắc kẻ địch đã tổ chức và cài cắm lại hàng vạn tên Phỉ ở vùng Đông bắc và Tây bắc của Tổ quốc. Để giữ vững an ninh – trật tự ở miền Bắc lực lượng Công an phối hợp với lực lượng Quân đội và nhân dân đã tiến hành tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ số Phỉ, gián điệp mà Pháp – Mỹ để lại, đã nhanh chóng ổn định An ninh – trật tự ở các vùng biên cương phía Bắc. Bị thất bại trong các chiến lượng xâm lược ở miền Nam, đế quốc Mỹ leo thang gây chiến tranh phá hoại ở miền Bắc. Với tình hình mới và để chống hoạt động phá hoại của Mỹ ngụy, lực lượng Công an chúng ta luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, dựa vào dân mà chiến đấu bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng, cùng với Đảng và nhân dân bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Từ khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc lực lượng Công An Nhân Dân đã coi trọng công tác đấu tranh chống tội phạm hình sự, chúng ta đã huy động nhiều lực lượng, phát động nhiều đợt, nhiều chiến dịch quét vét đấu tranh xử lý bọn lưu manh, côn đồ chuyên nghiệp, khám phá và trừng trị bọn trộm cướp, bọn xâm phạm tài sản XHCN và tài sản của công dân, đảm bảo sự yên ổn về trật tự an toàn xã hội của hậu phương lớn, đồng thời tích cực giải quyết đẩy lùi một số tệ nạn xã hội. Các phong trào bảo vệ trị an mà sau này là phong trào “Bảo Vệ An Ninh Tổ quốc” được phát triển sâu rộng trong nhân dân, trong các cơ quan, xí nghiệp được dấy lên phong trào đấu tranh bảo vệ tài sản XHCN. Góp phần nâng cao tinh thần chiến đấu và cảnh giác cách mạng cho quần chúng nhân dân. Dưới ánh sáng của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 3 (1960) cách mạng Miền Nam ngày càng phát triển và giành được những thắng lợi cơ bản. Các tổ chức An ninh như “ban bảo mật”, “An ninh cơ sở”, “An ninh nhân dân”, không ngừng phát triển, vùng giải phóng dần dần được mở rộng, tháng 2-1962 Hội nghị thành lập lực lượng An ninh nhân dân miền Nam đã được triệu tập. Hội nghị đã lấy tên “ban bảo vệ An ninh” để thống nhất tổ chức Công an miền Nam và xác định nhiệm vụ là: Tham mưu giúp cấp ủy, phát động và hướng dẫn quần chúng, điều tra nắm tình hình địch, phục vụ việc bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng, bảo vệ các cuộc đấu tranh của nhân dân. Tại các thành phố thị xã và vùng nông thôn do địch kiểm soát, lực lượng An ninh vừa hoạt động bí mật vừa hoạt động vũ trang kết hợp với các cuộc đấu tranh của quần chúng do Đảng lãnh đạo. Bên cạnh đó lực lượng An ninh nhân dân ở miền Nam vừa chiến đấu chống địch tiến hành bảo vệ Đảng, bảo vệ cơ sở cách mạng vừa xây dựng, phát triển lực lượng. Cách mạng Miền Nam ngày càng phát triển giành được thắng lợi to lớn, lực lượng Công an trong cả nước trưởng thành về mọi mặt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, góp phần to lớn vào sự ngiệp thống nhất đất nước.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đã đưa cách mạng nước ta chuyển sang giai đoạn mới: Cả nước độc lập, thống nhất cùng tiến hành công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Phát huy truyền thống tốt đẹp của toàn lực lượng, Công An Nhân Dân đã nhanh chóng triển khai các mặt công tác nhằm ổn định An ninh – trật tự trong phạm vi cả nước, phục vụ nhiệm vụ chiến lược của Đảng. Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa 6 ngày 6/6/1975 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quyết định đổi tên Bộ Công an thành Bộ Nội vụ và Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày 1/8/1975.Trong những năm mới giải phóng lực lượng Công an đã kịp thời điều tra khám phá, kịp thời đập tan hàng chục nhóm tổ chức phản động. ở Tây Nguyên bọn phản động Fulro đẩy mạnh hoạt động gây cho ta khó khăn, thiệt hại. Lực lượng Công an nhân dân đã để xuất với cấp ủy Đảng về những chủ trương đối sách đấu tranh với chúng, đồng thời ra sức tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, kết hợp việc phát huy sức mạnh của nhân dân với đẩy mạnh các mặt về công tác nghiệp vụ để đấu tranh truy quét phân hóa làm tan rã tổ chức, lực lượng của bọn Fulro. Ngay sau khi chiếm lĩnh, đập tan các công cụ đàn áp của Mỹ ngụy, lực lượng Công an đã tham gia ban quân quản tiến hành đăng ký cho hàng vạn đối tượng thuộc ngụy quân, ngụy quyền, cảnh sát tình báo, và phản động các loại ra trình diện và tiến hành cải tạo giáo dục họ, liên tục truy quyét tội phạm, bảo vệ bình yên cho nhân dân.

2

Từ những năm cuối thập kỷ 80, tình hình thế giới có nhiều biến động sâu sắc, phức tạp và đến những năm đầu thập kỷ 90 hệ thống XHCN không còn nữa. Trong lúc tình hình kinh tế, xã hội diễn biến phức tạp, có mặt nghiêm trọng, có nhiều biến động xấu, có lúc gay gắt, trong tình hình đó bọn đế quốc và các thế lực thù địch trong và ngoài nước ráo riết tiến hành chiến lược “Diễn biến hòa bình” coi Việt Nam là một trọng điểm tập trung lực lượng, tập trung hoạt động trên mọi lĩnh vực kinh tế – chính trị – văn hóa, xã hội nhằm xâm nhập nội bộ ta, gây rối, gây bạo loạn, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng ta, lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo của Nhà nước, CAND đã chủ động phát hiện và đấu tranh ngăn chặn âm mưu hoạt động diễn biến hòa bình gây rối, gây bạo loạn của các thế lực thù địch, bảo vệ thành công sự nghiệp xây dựng đất nước sau khi hệ thống XHCN sụp đổ trên thế giới. Bước vào thời kì đổi mới, để xây dựng lực lượng Công an trong sạch vững mạnh, tiến công sắc bén hơn nữa, ngày 7/5/1998 tại kỳ họp thứ 3 Quốc Hội khóa X, Quốc Hội ra Nghị Quyết số 13 NQ/1998/QH đổi tên Bộ Nội Vụ thành Bộ Công an, lực lượng Công an ngày càng kiện toàn về mọi mặt. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ đất nước trong tình hình mới, lực lượng Công an luôn thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đồng thời có thể khẳng định mình rằng trong quá trình đó , lực lượng Công an dưới sự lãnh đạo của Đảng đã và đang từng bước tiến lên chính quy, hiện đại.

3

Để ghi nhận công lao to lớn của lực lượng Công An Nhân Dân trong suốt 68 năm qua  Đảng và Nhà nước đã tặng thưởng cho lực lượng Công An Nhân Dân Việt Nam: 9 Huân chương Sao vàng, 63 Huân chương Hồ Chí Minh, 577 đơn vị và 287 cá nhân được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang; hàng trăm ngàn đơn vị, cá nhân được tặng thưởng huân, huy chương và các danh hiệu cao quý khác. Phần thưởng lớn nhất mà Công An Nhân Dân Việt Nam nhận được là sự tin cậy của Đảng, Nhà nước và của toàn dân.

         Sen Hong                                                 

Quân ủy Trung ương sơ kết 2 năm thực hiện quy chế dân chủ cơ sở

Ngày 15-5, Quân ủy Trung ương tổ chức hội nghị trực tuyến sơ kết 2 năm thực hiện Chỉ thị 590 của Quân ủy Trung ương “Về tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong quân đội” (2010-2012). Thượng tướng Nguyễn Thành Cung, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ cơ sở của Quân ủy Trung ương chủ trì hội nghị.

Dự hội nghị có các đồng chí Nguyễn Thế Trung, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng ban thường trực Ban Dân vận Trung ương; Trung tướng Đào Duy Minh, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Phó trưởng ban chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ cơ sở (QCDCCS) thuộc Quân ủy Trung ương; Thiếu tướng Phan Văn Giang, Phó Tổng tham mưu trưởng, Phó trưởng ban chỉ đạo thực hiện QCDCCS của Quân ủy Trung ương và 1.270 đại biểu là các đồng chí trong Đảng ủy, Ban chỉ đạo và cơ quan thường trực Ban chỉ đạo thực hiện QCDCCS của các đầu mối trực thuộc Quân ủy Trung ương ở 34 điểm cầu.

Quang cảnh hội nghị trực tuyến sơ kết 2 năm thực hiện QCDCCS tại điểm cầu K2000.

Báo cáo trung tâm của Hội nghị do Trung tướng Đào Duy Minh trình bày và các ý kiến phát biểu đều cho rằng: Qua hai năm thực hiện QCDCCS, nhận thức của cán bộ, chiến sĩ, đoàn viên, hội viên về xây dựng và thực hiện QCDCCS ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn. Cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị đã bổ sung, hoàn thiện hệ thống quy chế làm việc của cấp ủy và quy chế hoạt động lãnh đạo trên từng mặt công tác, trong đó tập trung vào một số lĩnh vực nhạy cảm như: Công tác cán bộ, công tác tuyển sinh, đào tạo, công tác tài chính, xây dựng cơ bản, mua sắm vật tư trang bị, chế độ tuyển dụng lao động, chế độ tiền lương, tiền thưởng… theo hướng mở rộng dân chủ, giữ vững nguyên tắc và mối quan hệ giữa cấp ủy, chỉ huy với cán bộ, chiến sĩ. Cán bộ các cấp đã coi trọng đối thoại dân chủ với nhiều hình thức, đa dạng, phong phú, kịp thời giải quyết vướng mắc từ cơ sở, tạo sự đoàn kết, thống nhất trong đơn vị. Các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân đã phát huy dân chủ tham gia ý kiến, hiến kế và bàn biện pháp thực hiện nghị quyết của các cấp ủy đảng, chỉ thị, mệnh lệnh người chỉ huy và các mặt hoạt động của đơn vị. Nhờ thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở nên tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn xác định tốt nhiệm vụ; nhiều đơn vị không có đơn thư tố cáo, khiếu nại vượt cấp.

Hội nghị cũng nhất trí và đi sâu phân tích những khuyết điểm, hạn chế và nguyên nhân tồn tại trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở như: Nhận thức của một số cấp ủy, chỉ huy về thực hiện quy chế dân chủ cơ sở chưa đầy đủ; dân chủ trong hoạt động lãnh đạo của các tổ chức đảng còn hạn chế, còn biểu hiện bệnh thành tích, dân chủ hình thức, xuôi chiều, nể nang, né tránh, chưa mạnh dạn bày tỏ chứng kiến để bảo vệ cái đúng, đấu tranh với nhận thức, hành vi sai trái; một số cán bộ chưa thực sự sâu sát với bộ đội, nặng về mệnh lệnh hành chính, thiếu kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở. Hoạt động của các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân ở một số đơn vị còn hình thức; tình hình vi phạm kỷ luật ở một số đơn vị cao.

Kết luận hội nghị, Thượng tướng Nguyễn Thành Cung khẳng định: Thực hiện Chỉ thị 590 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) các đơn vị đã triển khai nghiêm túc, có hiệu quả thiết; tạo thành sức mạnh tổng hợp xây dựng Đảng bộ Quân đội ngày càng trong sạch vững mạnh; quân đội vững mạnh toàn diện; nâng cao khả năng, trình độ sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc. Những hạn chế, khuyết điểm được phân tích tại hội nghị sẽ được Ban chỉ đạo thực hiện QCDCCS của Quân ủy Trung ương nghiên cứu, điều chỉnh cho phù hợp, để phát huy tốt nhất việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở. Trên cơ sở những hạn chế, khuyết điểm mà các đại biểu đã chỉ ra, thay mặt Ban chỉ đạo thực hiện QCDCCS tôi đề nghị các cơ quan, đơn vị làm tốt “4 chống”: Chống bệnh hình thức, áp đặt ý kiến cá nhân; chống khoán trắng cho Ban chỉ đạo thực hiện QCDCCS và cơ quan chuyên môn; chống bệnh quan liêu, không sâu sát cơ sở, xa rời quần chúng và chống nói nhiều, hứa nhiều, làm ít.

Nguồn QDND