Cần ứng xử có văn hóa với thiên nhiên

thien nhien hung vi

Nằm ven bờ Biển Đông quanh năm cuồn cuộn sóng, đất nước ta đã và đang phải đương đầu với những cơn cuồng nộ của thiên nhiên nhằm trả thù hành vi dại dột của con người triền miên phá hủy môi trường sống của chính mình.

Những nguy cơ của biến đổi khí hậu và nước biển dâng đang trực tiếp tác động vào cuộc sống thường ngày của mỗi chúng ta. Đối diện với hiểm họa đó, ở phương Tây, sinh thái học từ một lĩnh vực triết lý trở thành một phong trào xã hội  nhằm tái lập cuộc đối thoại giữa con người,  xã hội với thiên nhiên mà thời đại công nghiệp đã phũ phàng vứt bỏ. Triết lý ấy lập luận rằng người, thiên nhiên và các sinh vật chỉ là những hình thái sống khác nhau mà thôi.

Một vị đại biểu của triết lý này, Michel Serres, quan niệm rằng: “Ta đánh mất vũ trụ(…). Ta biến tất cả sự vật thành hàng hóa…Vũ trụ (…) tự cống hiến nó cho chúng ta. Sẽ có sự bất công, sẽ có sự bất quân bình nếu ta nhận sự cống hiến đó một cách miễn phí, không trả lại cái gì cả. Sự công bằng buộc chung ta phải trả, ít nhất là ngang mức ta nhận, nghĩa là vừa đủ”.

Phát triển hướng tư duy đó, Aldo Leopold tiếp tục đưa ra một quan điểm đạo đức “Một việc là tốt, là thiện, nếu có khuynh hướng bảo tồn sự toàn vẹn, sự vững chắc và vẻ đẹp của cộng đồng sinh thái. Một việc là xấu, là ác, nếu trái lại!”

Lévi Strauss còn mạnh mẽ hơn, triệt để hơn khi ông phê bình gay gắt triết lý về chủ thể đã biến con người thành chúa tể thống trị một cõi riêng, giam con người trong lãnh địa văn minh của mình, tách biệt khỏi thiên nhiên vì thiên nhiên bị xem như “không có văn hóa”. Chỉ con người là có văn hóa, vì thế con người tách mình khỏi thiên nhiên. Cái luận đề đó hình thành đổng thời với quá trình đô thị hóa ở châu Âu, song song với đà phát triển văn minh công nghiệp đã cắt đứt con người thành thị ra khỏi giới tự nhiên. Kết quả, con người đã hủy diệt tất cả những gì không phải là chính mình, bắt đầu từ thiên nhiên ấy.

Nếu phương Tây phải tốn hai mươi thế kỷ để bắt đầu nhìn thấy và quyết liệt cảnh báo thì ở phương Đông, vấn đề ấy đã được đặt ra từ rất lâu, với ứng xử quen thuộc:Tương thân, tương ái, tương kính với thiên nhiên. Quan điểm ấy là xuyên suốt, chủ đạo trong triết học nhà Phật: “Cây cỏ, đất đá, đồi núi, tất cả yếu tố của vũ trụ đều có Phật tính”. Và rồi, văn hóa dân gian Việt Nam cũng biểu đạt triết lý ấy, nhưng giản đơn hơn: “Người ta là hoa của đất”.

Ở Việt Nam, còn vô khối câu ca dao cổ biểu tả sự gắn bó giữa con người với tự nhiên, chẳng hạn một chuyện tình: “Trèo lên cây bưởi hái hoa. Bước xuống vườn cà hái nụ tầm xuân. Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc. Em có chồng rồi anh tiếc lắm thay. Ba đồng một mớ trầu cay. Sao anh chẳng hỏi những ngày còn không. Bây giờ em đã có chồng. Như chim vào lồng, như cá cắn câu. Cá cắn câu biết đâu mà gỡ. Chim vào lồng biết thuở nào ra?”. Miễn cho lời bình về nỗi đắng cay uất ức trong lòng cô gái trước sự “tiếc lắm thay” nhạt hều của chàng trai, chỉ xin được nói về thiên nhiên ngập tràn trong tình yêu của đôi trai gái ấy:

Nào hoa bưởi, hoa tầm xuân, nào cây cà, cây bưởi, nào con chim, con cá… Cho dù có nỗi đau quằn quại của chim đã bị nhốt trong lồng, cá đã bị móc vào lưỡi câu oan nghiệt, câu chuyện lứa đôi kia vẫn ngạt ngào mùi hương hoa bưởi, vẫn “xanh biếc” màu xanh của “nụ tầm xuân” mới nở. Mà nào có gì cao xa đâu, cũng chẳng hề biết đến cuộc tranh luận về “triết lý chủ thể” và “triết lý về sự sống” [cho dù là cực kỳ cần thiết và phải biết trân trọng], đây là khung cảnh hết sức gần gũi và quen thuộc của cuộc sống làng quê đã từng xao động tâm hồn của mỗi chúng ta.

Thật ra, không tranh luận, nhưng nếu nói đến triết lý thì đây cũng là một triết lý tiềm ẩn trong tâm thức Việt đó là chữ “Hòa”. “Hòa” trong mối quan hệ giữa người với người, giữa người với thiên nhiên, hòa trong chính mình. Đây là một đặc trưng của tính cách phương Đông thể hiện trong lối sống và văn hóa Việt Nam. Triết lý ấy biểu hiện một nếp tư duy thiên về tổng hợp, kết hợp hơn là phân tích chia cắt, thiên về liên tục hơn là gián đoạn, thiên về tinh thần hơn là vật chất.

Đó là những gì ta cảm nhận từ lời mẹ dạy cho con, bà truyền cho cháu qua lời ru, qua cách ứng xử giữa đời thường. Sự cảm nhận ấy đã truyền đạt một cách dung dị hồn dân tộc trong cuộc sống, trong không khí để thở, trong gầu nước giếng mát để uống, trong mùi thơm của bát cơm gạo mới, vị ngọt của trái chín cây, mùi hương của hoa trong đêm… Đời này qua đời khác kết nối những cảm nhận ấy lại như một thứ “gien” di truyền, chìm sâu trong tâm thức của con người vốn đã sinh ra, hít thở khí trời, uống dòng nước mát, ăn bát cơm thơm trên đồng đất quê hương.

Trân trọng giữ gìn, chăm chút cảnh sắc thiên nhiên quanh ta, một gốc cây, một ngọn cỏ, một nhành hoa, một ngọn lá… là cả một ứng xử văn hóa. Ứng xử ấy cần trở thành một thói quen, một tập quán để định hình một lối sống, một cách sống. Trong cái xô bồ của cuộc sống hiện tại, phải thấy cho ra cái chữ “hòa” ấy trong cội nguồn văn hóa Việt Nam.

Thấy ra để làm gì? Để tự hào về ông cha mình, tự hào về dân tộc mình, đồng thời cũng thấy được những khiếm khuyết mà càng thêm day dứt vì chúng ta đã không thực hiện tốt lời răn dạy của ông cha. Đại Việt Sử ký Toàn thư, Bản kỷ, Quyển III, Kỷ Nhà Lý, triều Lý Nhân Tông, chép rằng: “Năm Bính Ngọ [1126] “Mùa xuân, tháng giêng mở hội đèn Quảng Chiếu bảy ngày đêm. Tha người có tội (giam) ở phủ Đô hộ. Cấm dân chúng mùa xuân không được chặt cây”. Bình về điều cấm này, giáo sư Cao Huy Thuần viết: “Luật của cây cối là: xuân sinh, hạ trưởng, thu thâu, đông tàn. Xuân sinh: hãy nhìn một lộc non vừa nhú lên trong mùa xuân, bao nhiêu là hạnh phúc, bao nhiêu là sức sống. Chặt cây cối trong mùa xuân là kết án tử hình sự sống. Chặt cây cối trong mùa xuân là kết án tử hình mùa xuân. Chưa bao giờ chân lý, thiện và mỹ được nâng cao đến mức ấy”.

Được nâng cao đến mức ấy” tự bao giờ? Thưa rằng: từ cách đây gần 900 năm, non một thiên niên kỷ! Thì ra, trong sâu thẳm của triết lý nhân sinh, tư duy của loài người bắt gặp nhau ở những điểm tiệm cận trên vòng xoáy trôn ốc của tiến trình phát triển. Ông cha ta từ xa xưa đã có những phương cách bảo vệ môi trường sinh thái hữu hiệu, phù hợp với trình độ phát triển của kinh tế. Đây là mức độ có thể đo đếm được qua những chặng đường thời gian. Nhưng sự nông sâu trong triết lý, trong nguồn mạch của tư duy thì không dễ gì đo đếm một cách thô thiển và vụng dại được! Chính từ đây, từ cái mẫu số chung của thời đại mà suy ngẫm về sựbắt gặp và nối liền nguồn mạch của tư duy hiện đại với sâu thẳm cội nguồn của triết lý đã dẫn dắt, tạo dựng, bảo vệ và phát triển non sông gấm vóc ông cha bao đời để lại cho thế hệ chúng ta hôm nay.

Với quá trình đô thị hóa một cách xô bồ thiếu sự cẩn trọng cần thiết, rồi chuyện “công nghiệp hóa” tràn lan chưa có sự nghiêm túc và thật sự khoa học trong tính toán, lại “hiện đại hóa” nóng vội, bộc lộ sự thiếu hiểu biết, đã vô tình biến đất nước mình thành bãi thải công nghiệp, thành phòng thí nghiệm cho những “dự án” hàm hồ mà cái giá phải trả là rất đắt. Để rồi dòng người từ nông thôn hối hả chuyển vào đô thị gây nên sự quá tải ngày càng trầm trọng về cơ sở hạ tầng, về chất lượng văn hóa của cuộc sống. Xót xa nhất là dần dà nông thôn trở thành nơi không ai muốn ở, nông nghiệp đang là ngành ít ai muốn đầu tư, nền văn hóa làng, cội nguồn của bản sắc văn hóa Việt Nam đang bị mai một, những giá trị truyền thống bị phôi pha, các thế hệ tương lai sẽ bỏ rơi nông thôn.

Tuy nhiên, với một nền tảng văn hiến được xây cất trên một triết lý “người ta là hoa của đất”, nếu biết định hình một chiến lược phát triển đất nước coi con người vừa là mục tiêu, vừa là động lực của phát triển, thì sẽ tìm ra được một cách đi đúng, tránh những xô bồ chứa nhiều hiểm họa như hiện nay. Văn hóa chính là chìa khóa mở ra cánh cửa cho những giải pháp về kinh tế, xã hội trong sự phát triển của đất nước.

Để có thể là “chìa khóa”, phải thấy được văn hóa là một cấu trúc có bề sâu. Cuộc sống nhân sinh được phản chiếu ở cả bề nổi và bề chìm. Dưới tầng nước mặt, văn hóa được phân chia theo những tầng khác nhau, thường tiềm ẩn, kỳ bí vô cùng và tưởng chừng như vô thức. Ở độ sâu này, có một sự sắp xếp của các quy tắc văn hóa điều chỉnh bề mặt ở bên trên. Chính sự tiềm ẩn và tưởng như là vô thức này nằm chìm trong đời sống của dân tộc, làm nên bản lĩnh và cốt cách, tạo nên sức mạnh cho dân tộc ấy. Chính vì lẽ đó, vun đắp văn hóa không thể làm theo cách ăn xổi ở thì kiểu “mì ăn liền”. Văn hóa được hình thành theo quy luật thẩm thấu dài lâu.

Để vun đắp một nền văn hóa ứng xử với tự nhiên, phải biết “thăm dò cái gốc của nó, lại phải tưới tắm cái ngọn của nó, mở rộng cái nguồn của nó, lại phải buông lơi cái dòng của nó” như lời bàn của Nguyễn Văn Siêu, danh sĩ nổi tiếng Việt Nam cách đây gần hai thế kỷ. Muốn làm được việc này, phải có thời gian, đổng thời cần sự kiên tâm nhất định của những người làm công tác tuyên truyền, giáo dục.

<Theo congdanvietnam2

 

73 comments on “Cần ứng xử có văn hóa với thiên nhiên

  1. Không phải kinh tế càng phát triển, con người sống càng sung túc khắc có thái độ ứng xử càng đúng đắn với thiên nhiên, bởi sẵn có trong tay phương tiện vật chất, kỹ thuật và tiền của. Đôi khi ngược lại. Các nhà khoa học trên thế giới đều nhất trí, sở dĩ trái đất đang nóng dần lên, hệ quả lồng kính ngày càng rõ rệt biểu hiện, hiện tượng tần suất và cường độ của thiên tai ngày càng mau hơn, mạnh hơn, băng giá vĩnh cửu ở hai địa cực đang tan mòn với nhịp độ đáng lo; tất cả những hiện tượng ấy đều cảnh báo một thảm họa được nhìn thấy trước. Mà thủ phạm gây ra hiện tượng toàn cầu ấy chính là sự phát triển vô hạn độ của công nghiệp. Đã đến lúc chúng ta cần phải có những cái nhìn cho đúng đắn hơn về vấn đề này nếu không sẽ là chính chúng ta đang tự giết chúng ta.

  2. Sự nổi giận của thiên nhiên, suy cho cùng cũng là do chính bàn tay con người. Nếu biết ứng xử tốt với thiên nhiên, sống cân bằng, thân thiện và hiểu biết về nó thì không chỉ hiện tại mà trong tương lai, con cháu chúng ta sẽ không còn phải chịu quá nhiều ẩn họa khôn lường mà thiên nhiên giáng trả bất cứ lúc nào. Nếu biết việc tiêu tốn năng lượng một cách thái quá như một tác nhân làm Trái đất nóng lên thì chúng ta sẽ biết cách làm chậm lại quá trình biến đổi khí hậu. Một hành động được coi là khôn ngoan lúc này là biết trân trọng những nguồn năng lượng hoá thạch còn lại trên Trái đất và sử dụng những công nghệ thân thiện với môi trường.

  3. Con người dù có khác nhau từ màu da, mái tóc, sắc tộc, ngôn ngữ đến vị trí địa lí .v.v. nhưng có chung một ngôi nhà đó là trái đất. Môi trường thiên nhiên chính là những là “nguồn thức ăn” quý giá nhất mà trái đất ban tặng và làm phong phú đời sống cũng như tâm hồn của con người. Dù là “thức ăn” nhưng không có nghĩa là lúc nào cũng ngon và “hợp khẩu vị các thực khách” vì có những lúc tính tình “đỏng đảnh” của mình, thiên nhiên mang tới cho con người những “món ăn” có phần “khắc khẩu” như bão, lũ lụt, sóng thần, hiệu ứng nhà kính .v.v. gây thiệt hại rất nhiều về tính mạng, của cải và cảnh quan. Đã đến lúc chúng ta phải tự nhìn nhận lại vấn đề này chứ không phải là đổ lỗi cho thiên nhiên mà hãy tự trách chính bản thân mình.

  4. Do môi trường thiên nhiên luôn có tính tái tạo nếu như con người nhận thức được trách nhiệm cũng như nhiệm vụ của mình phải làm những gì thì dù có khái thác như thế nào đi chăng nữa vẫn có thể duy trì được “lá phổi”, hạn chế thiên tai cho cuộc sống con người.Chúng ta có thể xem đó chính là “sứ mạng” giải cứu thiên nhiên và là sự hợp tác đôi bên cùng có lợi trong quá trình phát triển. Hãy ứng xử có văn hóa với thiên nhiên cũng chính là đang làm những chuyện để mang lại lợi ích cho chính chúng ta chứ không phải là cho ai hết.

  5. Xã hội loài người đang tồn tại trong môi trường sinh thái – nhân văn hay môi trường tự nhiên – người hoá. Bằng sức sáng tạo của trí tuệ và lao động được định hướng bởi trí tuệ đó, con người với tư cách một thực thể sinh học – xã hội đã không ngừng khai thác, sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường xung quanh nhằm đáp ứng các nhu cầu sống ngày càng cao của mình và sự phát triển của xã hội. Song, cũng chính trong quá trình say sưa “nhào nặn” các tạo phẩm thiên nhiên sẵn có thành những tạo phẩm văn hoá, con người đã phạm phải những sai lầm nghiêm trọng đối với môi trường thiên nhiên, đã tàn phá chính nguồn sống và “thân thể vô cơ” của mình. Bởi vậy, ngày nay, hơn lúc nào hết, đạo đức sinh thái đang trở thành một yêu cầu mới đối với phẩm chất của con người và theo đó, việc xây dựng đạo đức sinh thái cũng trở thành một trách nhiệm xã hội của con người đối với môi trường sống.

  6. Trong quan hệ đạo đức sinh thái, con người bao giờ cũng là chủ thể, còn tự nhiên bao giờ cũng là khách thể; sự tác động giữa chúng chỉ đi theo một chiều là mang lại lợi ích cho con người và xã hội, bỏ quên lợi ích và giá trị nội tại của các khách thể tự nhiên. Vì vậy, con người đã mang lại hậu quả khôn lường cho môi trường sống. Thực trạng suy thoái nghiêm trọng của môi trường tự nhiên, vấn đề xây dựng đạo đức sinh thái càng trở nên bức xúc hơn lúc nào hết và phải được tiến hành ở mỗi thành phần cấu trúc của nó: ý thức đạo đức sinh thái, quan hệ đạo đức hành vi, kết hợp đạo đức với trách nhiệm xã hội của con người đối với tự nhiên.

  7. Con người với tư cách chủ thể đạo đức luôn chủ động quan hệ và tác động lên tự nhiên một cách có ý thức, có mục đích là mang lại lợi ích về cho mình. Trong khi đó, sự tác động của tự nhiên lên con người và xã hội chỉ là sự tác động mù quáng, vô thức, hay chỉ là “sự phản xạ tự nhiên”. Do vậy, sự ứng xử vô đạo đức của con người đối với tự nhiên cứ thế được “tích luỹ” lại, mâu thuẫn giữa con người và tự nhiên ngày càng sâu sắc dần, nhưng con người không thể nhận biết được, hay đúng hơn là không thể lường trước được hậu hoạ. Đến lúc con người nhận thức ra “sự trả thù” của tự nhiên thì đã quá muộn và khi đó, con người phải gánh chịu hậu quả nặng nề do mình gây ra cho môi trường tự nhiên và cũng là cho chính bản thân mình.

  8. Con người chỉ tập trung khai thác những giá trị sử dụng và thực dụng của các khách thể tự nhiên nhằm phục vụ cho nhu cầu và thoả mãn được lợi ích ngày càng cao của mình, nhưng lại quên đi giá trị nội tại của chúng là sự sống và phục vụ cho sự sống. Với cách “hành xử” như vậy, con người đã vô tình vi phạm nghiêm trọng đến đạo đức sinh thái. Điều này đã chứng tỏ rằng, chúng ta chưa nhận thức được thấu đáo giá trị nội tại của thực vật, của rừng đối với đời sống của vạn vật, trong đó có chúng ta và xã hội, mà chỉ biết khai thác giá trị sử dụng của chúng đến cạn kiệt. Hãy ứng xử có văn hóa với thiên nhiên để có thể bảo vệ cho thiên nhiên cũng chính là bảo vệ chính bản thân mình.

  9. Trong mối quan hệ giữa con người và tự nhiên, trải qua một thời gian quá dài, con người hầu như chỉ biết mang lại lợi ích cho mình trong quá trình tác động lên tự nhiên. Vì vậy, con người không chỉ vi phạm nghiêm trọng đạo đức sinh thái, mà còn vô trách nhiệm đối với tự nhiên và suy đến cùng, là vô trách nhiệm với sự sống của chính mình và con cháu mình. Trong tình hình hiện nay, cần phải đề cao trách nhiệm xã hội của con người đối với tự nhiên, cụ thể là con người cần phải có năng lực xác định được lợi ích hoặc tác hại trong các hoạt động của mình trong quá trình tác động lên các khách thể tự nhiên.

  10. Nước ta còn là một trong những nước đang phải gánh chịu hậu quả nặng nề nhất của sự biến đổi khí hậu toàn cầu. Mưa lũ, ngập lụt, lốc xoáy, hạn hán xảy ra thường xuyên trên khắp mọi miền đất nước, năm sau lại nặng nề hơn, tổn thất lớn hơn năm trước. Tất cả những điều đó đang đòi hỏi phải xây dựng một đạo đức sinh thái mới phù hợp với điều kiện phát triển mới của đất nước và thế giới. Yêu cầu xây dựng đạo đức sinh thái ngày nay trở nên bức xúc hơn bao giờ hết, nó đòi hỏi phải xuất phát từ lương tâm, trách nhiệm của con người đối với tự nhiên, nhưng suy đến cùng, là đối với sự sống còn của chính mình và các thế hệ con cháu mai sau trước thực trạng xuống cấp nghiêm trọng của môi trường sống.

  11. Phải thừa nhận rằng, trong truyền thống văn hoá dân tộc, con người Việt Nam đã có một đạo đức sinh thái rất đáng quý và đáng trân trọng. Với triết lý sống hài hoà với thiên nhiên và với lý tưởng đạo đức sinh thái “Thiên – Nhân hoà đồng” hay “Thiên – Nhân hợp nhất”, con người Việt Nam đã luôn sống gắn bó với thiên nhiên qua biết bao thế hệ, trải qua hàng nghìn năm lịch sử. Vậy thì tại sao chúng ta không học theo cha ông ta đó chính là có những sự ứng xử có văn hóa với thiên nhiên sống hòa đồng với thiên nhiên bảo vệ thiên nhiên.

  12. Muốn bảo vệ được thiên nhiên giảm thiểu các thiên tai thảm họa do thiên nhiên mang lại thì đều phụ thuộc vào ý thức của con người. Điều này chỉ có thể đạt được bằng con đường tuyên truyền, giáo dục, dưới tất cả mọi hình thức, đối với tất cả mọi đối tượng trong xã hội, nhằm cung cấp cho con người những tri thức sinh thái cần thiết cũng như tình cảm yêu thiên nhiên vốn có của con người Việt Nam. Từ sự hiểu biết, con người sẽ tự giác điều chỉnh hành vi của mình đối với thiên nhiên một cách có đạo đức và có trách nhiệm.

  13. Xây dựng đạo đức sinh thái là một nhu cầu cấp thiết trong việc con người thực hiện trách nhiệm xã hội đối với thiên nhiên. Sự gắn kết giữa đạo đức sinh thái với trách nhiệm xã hội của con người đối với thiên nhiên ngày nay phải trở thành một phần quan trọng trong lối sống của con người hiện đại. Chỉ có làm được điều này thì chúng ta mới có thể nghĩ đến việc bảo vệ được thiên nhiên bảo vệ môi trường sống cũng chính là đang bảo vệ cho tương lai của mình.

  14. Thiên nhiên đã ban tặng cho chúng ta rất nhiều những lợi ích để phục vụ cho đời sống của chúng ta tuy nhiên chúng ta lại thường có những cách đối xử chưa đẹp chưa thật sự có văn hóa với thiên nhiên chính điều này sẽ làm cho chúng ta phải gánh chịu những hậu quả do chính chúng ta gây ra đó là sự biến đổi của thiên nhiên. Thế nên cần phải có những cái nhìn đúng đắn hơn ứng xử có văn hóa hơn với thiên nhiên để cứu lấy thiên nhiên cũng là đang cứu lấy bản thân mình.

  15. Chúng ta đang nói về thái độ , trách nhiệm của mình với chính cuộc sống này. Hãy thử tưởng tượng nếu một ngày bạn thức dậy bên cạnh toàn mùi hôi thối. không khí ngột ngạt, cây xanh không có, bụi phủ trắng căn nhà. Chắc hẳn bạn sẽ cảm thấy rất tồi tệ phải không?. Vậy nên ngay từ bây giờ hãy bắt đầu với những việc đơn giản nhất để cứu chính mình trước khi mọi chuyện quá trễ

  16. hãy chung tay xây dựng một hành tinh xanh, hãy để con cháu các bạn được sống trong một môi trường trong lành như ông bà đã ban tặng chi chúng ta vậy. Xã hội ngày càng phát triển, kéo theo nhiều hệ lụy, ô nhiễm mối trường là một trong số đó. Hãy làm từ những việc nhở bé nhất bằng những hành động thiết thực trong cuộc sống là bạn đã giúp trái đất này có thêm một ngày ttrong lành

  17. Thiên nhiên đã ban tặng cho chúng ta rất nhiều những lợi ích để phục vụ cho đời sống của chúng ta. Con người Việt Nam đã luôn sống gắn bó với thiên nhiên qua biết bao thế hệ, trải qua hàng nghìn năm lịch sử. Do vậy, chúng ta cần có những sự ứng xử có văn hóa với thiên nhiên sống hòa đồng với thiên nhiên bảo vệ thiên nhiên.

  18. Tổ Quốc Việt Nam xanh mãi, có sạch đẹp mãi được không. Điều đó phù thuộc hành động của bạn, chỉ thuộc vào bạn mà thôi. Chúng ta cần chung tay bảo vệ thiên nhiên. Đó là nguồn giúp cho nền kinh tế của chúng ta phát triển, đảm bảo sức khỏe cho chúng ta.

  19. Đất nước ta là quốc gia nông nghiệp, 3/4 diện tích là rừng núi. do đó việc xây dựng cho người dân có thái độ thân thiện với môi trường, tích cực xây dựng và cải tạo môi trường, gần gũi với thiên nhiên là yếu tố quan trọng quyết định tới sức khỏe người dân, hình ảnh quốc gia trên trường quốc tế

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s