Bộ sưu tập

Một số lý thuyết về toàn cầu hóa hiện nay!

Trần Ái Quốc – Nghiên cứu kinh tế “Lịch sử toàn cầu hóa và một số quan niệm về toàn cầu hóa hiện nay

Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế, v.v… trên quy mô toàn cầu. Đặc biệt trong phạm vi kinh tế, toàn cầu hoá hầu như được dùng để chỉ các tác động của thương mại nói chung và tự do hóa thương mại hay “tự do thương mại” nói riêng. Cũng ở góc độ kinh tế, người ta chỉ thấy các dòng chảy tư bản ở quy mô toàn cầu kéo theo các dòng chảy thương mại, kỹ thuật, công nghệ, thông tin, văn hoá.

1.Lịch sử của toàn cầu hóa

– Toàn cầu hoá, theo nghĩa cổ điển, đã bắt đầu vào khoảng thế kỷ thứ 15, sau khi có những thám hiểm hàng hải quy mô lớn. Cuộc thám hiểm lớn lần đầu tiên vòng quanh thế giới do Ferdinand Magellan thực hiện vào năm 1522. Cũng như việc xuất hiện các trục đường trao đổi thương mại giữa châu Âu, châu Á, châu Phichâu Mỹ không phải là hiện tượng gần đây. Cụ thể là, vào thế kỷ XV, sau khi Crixtôp Côlông tìm ra châu Mỹ, các nước phát triển nhất ở châu Âu thời bấy giờ đã tiến hành ồ ạt các cuộc chinh phục đối với phần thế giới mới được khám phá ấy. Tiếp đó, từ giữa thế kỷ XIX trở đi, châu Âu đã chinh phục hàng loạt các nước châu Á và biến vùng đất rộng lớn, rất giàu tài nguyên thiên nhiên này thành thuộc địa, thành nơi cung cấp nguyên liệu cho chính quốc, thành thị trường béo bở mang lại lợi nhuận cao. Suốt hàng thế kỷ, người Anh, người Bồ Đào Nha, người Pháp đã có mặt ở nhiều thuộc địa đến mức, như người ta thường nói, là mặt trời không bao giờ lặn trên lãnh thổ đế quốc Anh.

– “Thời kỳ đầu của toàn cầu hoá” rơi vào thoái trào khi bắt đầu bước vào Chiến tranh thế giới lần thứ nhất, và sau đó sụp đổ hẳn khi xảy ra khủng hoảng bản vị vàng vào cuối những năm 1920 và đầu những năm 1930.

– Trong môi trường hậu Chiến tranh thế giới lần thứ hai, thương mại quốc tế đã tăng trưởng đột ngột do tác động của các tổ chức kinh tế quốc tế và các chương trình tái kiến thiết. Kể từ Chiến tranh thế giới lần thứ hai, các Vòng đàm phán thương mại do GATT khởi xướng, đã đặt lại vấn đề toàn cầu hoá và từ đó dẫn đến một loạt các hiệp định nhằm gỡ bỏ các hạn chế đối với “thương mại tự do“. Vòng đàm phán Uruguay đã đề ra hiệp ước thành lập Tổ chức thương mại thế giới hay WTO, nhằm giải quyết các tranh chấp thương mại. Các hiệp ước thương mại song phương khác, bao gồm một phần của Hiệp ước Maastricht của châu Âu và Hiệp ước mậu dịch tự do Bắc Mỹ (NAFTA) cũng đã được ký kết nhằm mục tiêu giảm bớt các thuế quan và rào cản thương mại. Từ thập kỷ 1970, các tác động của thương mại quốc tế ngày càng rõ rệt, cả về mặt tích cực lẫn tiêu cực.

Kể từ buổi đầu của thời kỳ phong kiến, biên giới kinh tế, chính trị và văn hóa giữa các quốc gia trở nên khó bền vững hơn mặc dù độc lập lãnh thổ và bản sắc riêng của mỗi dân tộc vẫn được tôn trọng và bảo vệ. Với sự hợp tác quân sự của các nước Đồng minh trong giai đoạn cuối của Chiến tranh Thế giới thứ II và những phát triển vượt bậc của khoa học công nghệ, giao thông và thông tin từ nửa sau thế kỷ 20, thế giới dường như được thu hẹp lại về cả thời gian lẫn không gian cho dù còn nhiều nơi và dân tộc khác vẫn còn cô lập với thế giới hiện đại. Lần đầu tiên vào năm 1944, từ điển Merriam Webster đã công nhận động từ «toàn cầu hóa» (globalize) như một từ tiếng Anh có nghĩa.

– Với lý thuyết về dịch chuyển lao động và sự phát triển của thuyết tự do mới, các tác giả như Mittelman (2000) hay Giáo sư Dapice (2002) cho rằng toàn cầu hóa đã trải qua ba thời kỳ chính. Thời kỳ thứ nhất xuất hiện cách đây khoảng 5.000 năm khi một số nhóm người đã bắt đầu vượt khỏi biên giới của bộ tộc hay lãnh thổ của mình để xâm chiếm dân tộc khác, hay chỉ để trao đổi hàng hóa và tìm nơi định cư mới. Thời kỳ thứ hai bắt đầu cùng với sự ra đời của chủ nghĩa thực dân, tư bản và công nghiệp hóa xảy ra cách đây khoảng 400 năm và kéo dài đến thập niên 1970. Trong suốt thế kỷ 18, thế giới đã chứng kiến một sự di dân ồ ạt của khoảng 10 triệu nô lệ da đen sang các nước thực dân và các nước thuộc địa của Anh và Pháp đang bị khai thác do tình trạng thiếu lao động ở các nước này. Đầu những năm thế kỷ 20, hàng triệu người đổ xô đến các “vùng đất hứa” ở Mỹ hay Úc để đào vàng. Nguyên nhân chính vẫn là do sự đói nghèo, sự đe dọa về chiến tranh và hạn chế về cơ hội nghề nghiệp ở các nước châu Âu. Đến những năm 1960, Mỹ bắt đầu vươn mình trở thành siêu cường quốc sau Thế chiến thứ hai, và thế giới một lần nữa chứng kiến sự di chuyển ào ạt lực lượng lao động có kỹ năng và bán kỹ năng từ các nước châu Âu sang Bắc Mỹ, gây ra chảy máu chất xám đến mức Liên Hợp Quốc phải lên tiếng báo động vào năm 1967.

Trong thời kỳ thứ ba xảy ra kể từ những năm 1970, các nước tư bản phải đối phó với sự sụp đổ của hệ thống Bretton Woods (được 44 quốc gia thành lập vào năm 1944 và chấm dứt hoạt động vào tháng 8 năm 1971 do lạm phát kéo dài của nền kinh tế Mỹ trong suốt thời kỳ chiến tranh tại Việt Nam kéo theo sự tuột giá của đô-la Mỹ), và sự khủng hoảng năng lượng nghiêm trọng xảy ra tại châu Âu. Các nước đã và đang phát triển đã phải áp dụng các chiến lược phát triển kinh tế mới, tăng cường ứng dụng khoa học kỹ thuật và tận dụng đồng vốn đầu tư từ nước ngoài và tư nhân. Những khái niệm cô lập các hoạt động kinh tế từ thập niên 60 để bảo vệ nền kinh tế nội địa ở các nước đang phát triển bắt đầu bị phê bình. Các nhà kinh tế thuộc trường phái tự do mới (với cao trào xuất hiện vào những năm cuối thập niên 70) tin rằng giữa các quốc gia, bất kể là nước giàu hay nghèo, đều có chung những qui luật phát triển kinh tế. Theo quan điểm này, chính phủ các nước phải giảm vai trò kiềm chế cứng nhắc của mình trong các hoạt động kinh tế, đồng thời khuyến khích tự do mậu dịch và áp dụng các qui tắc về lợi thế so sánh. Mặc dù quan điểm tự do mới bị chỉ trích gay gắt về tính nhân văn trong cạnh tranh kinh tế bởi những học giả hậu cấu trúc luận, thời kỳ này được xem là giai đoạn chuyển tiếp của toàn cầu hóa sang một bước phát triển mới kể từ sau khi Liên Xô và Đông Âu sụp đổ và thế giới được sắp xếp lại theo một bố cục mới.

Theo quan điểm về sự phát triển của chủ nghĩa thực dân, một số nhà lịch sử cho rằng hiện tượng toàn cầu hóa trải qua ba thời kỳ với lần một xảy ra vào thế kỷ 16, lần hai vào thế kỷ 19, và lần ba kéo dài trong những năm cuối thế kỷ 20. Cả hai làn sóng đầu tiên đều xuất phát từ tham vọng bành trướng đất đai của những người lãnh đạo châu Âu. Hiện tượng này đã dẫn đến sự ra đời của chủ nghĩa thực dân đầu tiên ở Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha, kế tiếp đến Anh và Pháp. Sự kiện lịch sử quan trọng nhất giữa hai giai đoạn này là việc thực dân châu Âu xâm chiếm châu Mỹ, Úc và Phi; khiến người Mayas, Aztecs và thổ dân Aborigines ở Úc mất hết đất đai và trở thành nô lệ cho người da trắng. Những nước kém phát triển khác như Việt Nam, Ấn Độ, Ma-lay-xi-a, In-đô-nê-xi-a, An-giê-ri, Ma-rốc… trở thành thuộc địa của Anh và Pháp. Với những thành quả của cách mạng công nghiệp lần thứ nhất của Anh vào nửa cuối thế kỷ 18, giai cấp tư bản châu Âu trở thành lực lượng chủ yếu thúc đẩy tiềm lực kinh tế trong xã hội bên cạnh việc bần cùng hóa giai cấp vô sản. Sự phân biệt giàu nghèo xảy ra không chỉ tại các nước tư bản thực dân mà còn tạo nên sự cách biệt thu nhập trên thế giới. Ví dụ, vào cuối những năm 1890 thu nhập bình quân của các nước Tây Âu cao hơn các nước Đông Âu gấp 80%. Cuối thế kỷ 19, Anh từng tự hào với sức mạnh quân đội của họ, và cho rằng Mặt trời chưa bao giờ lặn ở Anhkhi thuộc địa của họ trải rộng khắp nơi trên địa cầu. Vào những năm 1800, châu Âu chiếm được khoảng 35% lãnh thổ trên thế giới, và con số này tăng lên 67% vào năm 1878 và 85% năm 1914. Tuy vậy, thực dân phương Tây vẫn luôn đối mặt với các sự phản kháng mãnh liệt từ các nước thuộc địa, gây ra biết bao thiệt hại về con người và vật chất. Thật vậy, trong những năm 1910 chiến tranh đã cướp đi sinh mạng của 38 triệu người. Chiến tranh Thế giới thứ nhất không phải là liều thuốc giải quyết chiến tranh, mà nó đã tạo nên một thế giới bị tàn phá thảm hại ngay sau đó.

 Nếu nói theo lý thuyết về sự phát triển thương mại quốc tế và các tổ chức kinh tế quốc tế, các nhà kinh tế – sử học khác cũng phân chia quá trình phát triển của toàn cầu hóa dựa trên bốn giai đoạn lịch sử kể từ thế kỷ 14. Giai đoạn một bắt đầu từ những năm 1350 khi mạng lưới thương mại, trao đổi động vật, hàng hóa (gồm vải vóc, đồ gốm sứ, hồ tiêu, quế…) giữa châu Âu và Trung Quốc phát triển mạnh. Mạng lưới này kéo dài từ Pháp và Ý dọc theo biển Địa Trung Hải đến Ai Cập, và sau đó theo đường bộ xuyên khắp Trung Á đến Trung Quốc. Thương mại đường biển cũng kéo dài từ biển Đỏ, qua Ấn Độ Dương, vòng qua eo Malacca đến bờ biển Trung Quốc, và nó phát triển mạnh từ những năm cuối thế kỷ 15 khi châu Mỹ được tìm ra một cách tình cờ trong quá trình tìm ra một con đường tơ lụa bằng đường biển của thực dân châu Âu cũ. Trao đổi thương mại giữa các quốc gia trong thời kỳ này được sự bảo hộ của quân đội nhà nước để tránh việc cướp bóc. Bù lại, các thương nhân phải trả thuế mỗi khi họ vận chuyển ngang một vùng lãnh thổ mới. Giao thương trong thời kỳ này được xem như “chuỗi ngọc trai” khi từng phần địa lý kết nối lại để tạo nên hệâ thống kinh thương quốc tế.

Giai đoạn hai bắt đầu từ năm1500 đến 1700 khi các nhà cầm quyền châu Âu (điển hình là Bồ Đào Nha, sau này liên kết với Hà Lan, Pháp và Anh) xâm chiếm châu Phi. Với hệ thống hải quân mạnh mẽ họ có thể bắt buộc các thương nhân trả thuế dọc tuyến đường Ấn Độ Dương. Đến những năm1700, trao đổi hàng hóa trên thế giới trở nên chuyên nghiệp hơn khi một số thương nhân và chính phủ châu Âu đã sáng lập ra các công ty thương mại vận tải biển đầu tiên để mua bán sỉ và lẻ có huê hồng theo tuyến Âu – Á. Thời kỳ thứ ba bắt đầu vào cuối thế kỷ 18 và đầu thế kỷ 19 khi khoa học kỹ thuật với hệ thống đường sắt và tàu thủy hơi nước phát triển, đã giúp cho con người tiến lại gần nhau hơn. Nhưng đồng thời, châu Âu dần dần mất vai trò kiểm soát châu Mỹ, đầu tiên ở phía Bắc, sau lan rộng đến miền Nam nước này. Với cuộc cách mạng giành độc lập ở Mỹ với Hiệp ước Vec-xai năm 1783, các cuộc phản kháng ở Haiti và Pháp, các nước thuộc địa bắt đầu nhận thức rõ hơn về quyền độc lập lãnh thổ và kinh tế của họ. Trong suốt thời kỳ này, chính phủ phải giữ vai trò điều hành kinh tế thông qua các đạo luật thương mại. Từ thời kỳ Thế chiến thứ hai kéo dài đến giai đoạn hậu Chiến tranh lạnh, các nước tư bản, và kể cả các nước kém phát triển, mới bắt đầu bước lại gần nhau trong lĩnh vực hợp tác kinh tế và cho ra đời hàng loạt các tổ chức quốc tế và khu vực.

Một quan điểm khác cho rằng toàn cầu hóa trải qua ba thời kỳ. Lần thứ nhất xảy ra từ năm 1870 đến 1914 khi có khoảng 60 triệu người (chiếm 10% lực lượng lao động trên thế giới lúc đó) di cư từ châu Âu đến Mỹ để tìm vàng, hay để tìm cuộc sống tốt hơn ở vùng đất mới được khám phá này. Sự di cư này càng kích thích sự phát triển của giao thông và thông tin, khiến cho hàng hóa, sức lao động và tiền bạc được di chuyển giữa các quốc gia. Làn sóng thứ hai xảy ra từ năm 1950 đến 1980 khi Thế chiến thứ II kết thúc, và kinh tế – chính trị thế giới được phân chia thành hai cực: tư bản và xã hội chủ nghĩa. Bộ ba Mỹ, Tây Âu và Nhật đã liên kết chặt chẽ để đẩy mạnh kinh tế tư bản lên một tầm mới thông qua các tổ chức quốc tế và các vòng đàm phán thương mại như GATT (Hiệp định chung về Thuế quan và Mậu dịch, và vòng đàm phán Uruguay của GATT kéo dài trong 8 năm từ 1986 đến 1994 đã dẫn đến hiệp ước thành lập Tổ chức Thương mại Thế giới – WTO) hay IMF (Quỹ Tiền tệ Quốc tế). Bên cạnh đó, trong thời kỳ từ những năm 1950 đến 1960, các tập đoàn công nghiệp lớn trên thế giới cũng bắt đầu mở rộng phạm vi hoạt động của họ vào các nước đang phát triển không thuộc khối xã hội chủ nghĩa, đặc biệt ở các nước Mỹ La-tinh. Kể từ sau những năm 1980 được xem là thời kỳ thứ ba của toàn cầu hóa khi các quốc gia đã bắt đầu ký kết các hiệp định song và đa phương về mặt kinh tế thông qua sự điều hành của các tổ chức quốc tế, mà điển hình là WTO. Nhìn chung trong thời kỳ này các công ty đa quốc gia dần dần có ảnh hưởng mạnh đến vai trò điều hành của các chính phủ.

2. Quan niệm về toàn cầu hóa

Diễn đàn Kinh tế Thế giới tại Davos (Thụy Sĩ) vào tháng 1 năm 1999 đã khẳng định toàn cầu hóa không còn là một xu thế nữa, mà nó trở thành một thực tế mang nhiều cơ hội và thách thức cho các quốc gia. Một trong những ví dụ nổi bật của toàn cầu hóa là sự hội nhập kinh tế quốc tế và mở rộng quan hệ ngoại giao của các quốc gia. Tiến trình này đã thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế trên thế giới với sự gia tăng GDP toàn cầu từ 2,7 lần vào nửa đầu thế kỷ 20 đến 5,2 lần vào nửa cuối thế kỷ 20, và tốc độ tăng trưởng GDP thế giới đạt đến 3,6%/năm. Ví dụ như đối với Việt Nam, chúng ta đã thiết lập quan hệ ngoại giao với 167 nước, có quan hệ thương mại với 160 nước, và có thể thu hút đầu tư trực tiếp của các công ty và tập đoàn kinh tế của hơn 70 quốc gia. Ngoài ra, sự ra đời của các tổ chức quốc tế trong kinh tế, văn hóa, an ninh hay giáo dục ví dụ như WTO, ASEAN, APEC, ASEM, EU, UN, UNESCO, v.v… hay các khu vực thương mại tự do (FTA) và các thỏa thuận thương mại khu vực (RTA) là những minh chứng của tiến trình này. Sự hợp tác kinh tế và sản xuất quốc tế được thể hiện trong một ví dụ cổ điển khác của việc sản xuất máy bay Airbus. Đôi cánh của Airbus được sản xuất tại Anh, thân và đuôi của Đức, cửa máy bay do Tây Ban Nha sản xuất, và Pháp chịu trách nhiệm thiết kế buồng lái và công đoạn lắp ráp cuối cùng. Ngoài ra, Airbus còn ký hợp đồng với 27 quốc gia khác để sản xuất các thiết bị cần thiết, với khoảng 35% các chi tiết trong máy bay do hơn 500 công ty của Mỹ cung cấp.

– Có nhiều định nghĩa và quan điểm khác nhau về toàn cầu hóa và quá trình phát triển của nó mặc dù nhiều người vẫn hay cho rằng toàn cầu hóa giống như quốc tế hóa ở sự phát triển mạnh mẽ của các lực lượng sản xuất và sự hợp tác xuyên quốc gia của các nước trong lĩnh vực kinh tế. Tiến trình này cũng được xem như hệ quả tất yếu của sự phát triển vượt bậc về số lượng và chất lượng của lực lượng sản xuất và sự tương tác kinh tế quốc tế. Tuy nhiên không chỉ đơn thuần là sự xích lại gần nhau của các nước, toàn cầu hóa là tiến trình bao gồm một hoặc hàng loạt các sự kiện và hoạt động về kinh tế, chính trị, văn hóa hay môi trường trên thế giới có tác động vừa tích cực lẫn tiêu cực giữa các quốc gia. Đây được xem như là kết quả của sự phát triển sản xuất và phân công lao động trên bình diện quốc tế.Những tác động này đã và đang làm thay đổi cấu trúc và quan hệ xã hội, trật tự thế giới và gia tăng mối quan hệ về kinh tế, chính trị và xã hội quốc tế.

– Nhìn chung có ba quan điểm khác nhau về hiện tượng toàn cầu hóa. Hầu hết các quốc gia đều xem đây là một hiện thực mới trong thời kỳ cạnh tranh kinh tế quốc tế mà các cá nhân, tập đoàn kinh tế và chính phủ phải chấp nhận tìm cách đối phó và khai thác lợi ích của nó. Nhờ vào những sự phát triển của công nghệ, truyền thông và giao thông nên con người, hàng hóa, ý tưởng và đồng vốn có thể dịch chuyển xuyên quốc gia. Theo quan điểm này, toàn cầu hóa cũng được xem như một cơ hội và thách thức cho các quốc gia đang phát triển trong việc trao đổi hàng hóa, dịch vụ và các nguồn tài chính hai chiều với các quốc gia phát triển. Những phát minh và chuyển giao công nghệ về thông tin và giao thông cũng đã nhanh chóng đem lại nhiều lợi ích to lớn cho việc phát triển cơ sở hạ tầng, giao lưu kinh tế và kiến thức mới cho các quốc gia đang phát triển.

-Tuy nhiên, một số học giả như Pierre Bourdieu, Namoi Klien hay Loic Wacquant từng lên tiếng chỉ trích tiến trình toàn cầu hóa, cho rằng nó là quá trình “Mỹ hóa” (Americanization) hay bề mặt của chủ nghĩa đế quốc mới của Mỹ và các nước tư bản phương Tây. Sau khi Liên Xô và các nước Đông Âu sụp đổ, Mỹ trở thành siêu cường quốc trên thế giới và các nước khác dường như máy móc lấy các kiểu mẫu hay chính sách của Mỹ để làm thước đo chuẩn mực cho riêng mình hay cho các hoạt động kinh tế quốc tế. Theo quan điểm bảo thủ của họ, chúng ta dường như quá lạm dụng những mỹ từ mới như “toàn cầu hóa”, “đa văn hóa”, “thời đại mới” hay “hậu hiện đại”, nhưng lại thiếu những hiểu biết sâu sắc về chủ nghĩa tư bản, hay bất công và phân tầng trong xã hội. Họ tranh cãi rằng các tổ chức toàn cầu – đa phương như Ngân hàng Thế giới (WB), Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Cộng đồng chung châu Âu (EU)… chẳng qua là những tổ chức do các cường quốc sáng lập, và là phương tiện để họ bảo vệ lấy mình, thực thi quyền lực và ảnh hưởng lên các nước đang phát triển ở vị trí ngoại vi. Các tập đoàn quốc tế này đang thao túng sự cô lập biên giới kinh tế và chính trị giữa các quốc gia, làm mờ nhạt vai trò của nhà nước và chính phủ. Thật ra, mặc dù quan điểm của các học giả này là bênh vực các nước nghèo đến mức thái quá trong cuộc chạy marathon không cân sức này, họ vẫn đúng khi cả thế giới đang ở đỉnh cao của sự phân cực. Ví dụ, theo một báo cáo của UNDP (Chương trình Phát triển của Liên Hiệp Quốc) năm 1997, tỷ lệ chênh lệch thu nhập giữa 20% dân số thế giới ở các nước giàu và 20% ở các nước nghèo là 1:30 vào năm 1960, 1:60 năm 1990 và 1:74 vào năm 1997. Vào năm 1985, thu nhập bình quân tính theo đầu người ở các nước giàu gấp 76 lần so với các nước nghèo. Nhưng đến năm 1997, chỉ số này tăng lên 288 lần. Hiện nay 3 tỷ người trên thế giới có mức sống dưới 2 USD/ngày, và 1,3 tỷ người có thu nhập dưới 1 USD/ngày.

– Một quan điểm khác về toàn cầu hóa mang tính trung lập. Họ gồm những nhóm người ít quan tâm đến hiệu ứng của hiện tượng này, và họ xem tiến trình này như một sự phát triển tất yếu của lịch sử nhân loại và ảnh hưởng mạnh mẽ đến cuộc sống con người. Một quan điểm đáng trân trọng của những học giả thuộc trường phái này là họ đang cố gắng lên tiếng bênh vực những nhóm người bất lợi về mặt sinh lý, địa lý, xã hội, giáo dục, tôn giáo, thu nhập và dân tộc. Đây là những người ít có tiếng nói hay cơ hội tiếp xúc với thế giới hiện đại, và vì thế họ không thể trực tiếp tham gia vào tiến trình này. Nhưng đồng thời vẫn có các tổ chức và cá nhân khác cố gắng bênh vực họ thông qua các tổ chức nhân đạo, phi chính phủ, các diễn đàn thế giới dành cho người nghèo, người khuyết tật… Những hoạt động của các tổ chức này đang được sự đồng tình của cộng đồng thế giới, và họ dần dần có tiếng nói mạnh mẽ trên trường kinh tế và chính trị quốc tế. Theo quan điểm này, toàn cầu hóa không còn là một xu thế phát triển một chiều từ các quốc gia đã phát triển áp đặt lên các nước đang phát triển nữa. Thật ra, tiến trình này đã có khuynh hướng di chuyển đa chiều giữa các quốc gia.

– Nói chung, toàn cầu hóa được đề cập nhiều trong lĩnh vực kinh tế vì đây là quá trình làm gia tăng mối quan hệ, tác động qua lại và phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia. Nó thường được xem như là sự tự do hóa các hoạt động kinh tế và thương mại quốc tế với sự điều hành của chính phủ từng quốc gia và các tổ chức quốc tế. Một đặc điểm nổi bật của hiện tượng này là sự dịch chuyển (hay còn gọi là «dòng chảy») của bốn yếu tố: hàng hóa – dịch vụ, di – nhập cư, khoa học kỹ thuật và tiền tệ (ở dạng đầu tư trực tiếp nước ngoài – FDI) trong giai đoạn tự do thương mại (cho dù không phải là tự do hoàn toàn).  

Quan điểm thứ nhất Trong Báo cáo phát triển con người Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001 cho rằng: toàn cầu hoá là một quá trình có tính nhiều mặt, bao gồm tăng trưởng thương mại quốc tế, các luồng lao động, vốn và công nghệ cũng như sự giao lưu ý tưởng và cách sống… ảnh hưởng của toàn cầu hoá đến vấn đề văn hoá phụ thuộc rất nhiều vào tính chất của các chính sách của các chính phủ đối với quá trình toàn cầu hoá (1, tr.22).

          – Theo quan điểm thứ hai trong Tạp chí Triết học, số 3, 5/2003 thì toàn cầu hoá được nói đến trước hết và chủ yếu là toàn cầu hoá kinh tế. Toàn cầu hoá kinh tế là một xu thế khách quan, lôi cuốn ngày càng nhiều nước tham gia, xu thế này đang bị một số nước phát triển và một số tập đoàn kinh tế tư bản xuyên quốc gia chi phối, chứa đựng nhiều mâu thuẫn, vừa có mặt tích cực, vừa có mặt tiêu cực, vừa có hợp tác, vừa có đấu tranh, vừa tạo ra những cơ hội cho sự phát triển nhưng cũng vừa có những thách thức đối với các quốc gia, nhất là các quốc gia đang ở trình độ kém phát triển (2, tr.5).

Hay trong Những vấn đề của toàn cầu hoá kinh tế, Nguyễn Văn Dân (chủ biên), Nxb. KHXH. Hà Nội, 2001 “Toàn cầu hoá là một quá trình mà thông qua đó thị trường và sản xuất ở nhiều nước khác nhau trở nên ngày càng phụ thuộc lẫn nhau do tính năng động của việc buôn bán hàng hoá và dịch vụ cũng như do tính năng động của sự lưu thông vốn tư bản và công nghệ”(3, tr.78).

          – Việt Nam trong thế kỷ XX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002, Cũng có học giả cho rằng toàn cầu hoá hiện nay chỉ là một khái niệm của một quá trình đã tiếp diễn từ lâu, một sự mở rộng không gian của phương thức kinh tế tư bản đến tận cùng của thế giới (4, tr.565).

          Mặc dù được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, với những mục đích khác nhau nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng toàn cầu hoá trước hết là khái niệm dùng để chỉ toàn cầu hoá về kinh tế, sau đó nó tác động ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác.

          Chúng ta biết rằng từ xa xưa đến nay, con người muốn sống và tồn tại được thì buộc phải giải quyết rất nhiều vấn đề khác nhau do cuộc sống đặt ra. Vấn đề đó có thể chỉ liên quan đến một cộng đồng người nhưng cũng có thể liên quan đến nhiều cộng đồng người khác nhau. Tuy nhiên, chỉ có ở thời đại ngày nay thì một số vấn đề được coi là cốt tử đối với sự tồn tại và phát triển ổn định của toàn thể loài người mới xuất hiện. Những vấn đề này được gọi là những vấn đề toàn cầu. Theo M.Maksimova, những vấn đề được coi là vấn đề toàn cầu phải có những đặc trưng sau:

+ Thực sự mang tính chất toàn hành tinh, liên quan đến lợi ích toàn nhân loại; Đe doạ cả loài người tụt hậu trong bước phát triển tiếp của LLSX và cả trong những điều kiện của cuộc sống; Cần có những giải pháp và hành động không thể trì hoãn trên bình diện toàn hành tinh để khắc phục mọi mối đe doạ đối với con người; Đòi hỏi nỗ lực tập thể từ phía tất cả các quốc gia và toàn thể cộng đồng thế giới (5, tr.212).

Chẳng hạn như: vấn đề an ninh lương thực, an ninh năng lượng, môi trường, các cuộc xung đột vũ trang, khủng bố, tệ nạn xã hội và tội ác, vấn đề phát triển kinh tế toàn cầu…

          Với cách tiếp cận này thì toàn cầu hoá được hiểu là: xã hội loài người đã ở vào giai đoạn mà sự phát triển của các nền kinh tế đòi hỏi những phương thức hoạt động và điều hành mới ở cấp độ toàn cầu; sự nảy sinh và tồn tại những vấn đề có ý nghĩa sống còn đối với toàn nhân loại đòi hỏi sự giải quyết ở cấp độ toàn cầu; nguyện vọng muôn thủa của con người được sống trong một thế giới hoà bình, nhân ái và hạnh phúc cần được đáp ứng ở cấp độ toàn cầu – tất cả là yêu cầu vừa là điều kiện để cho tất cả các quốc gia, các dân tộc liên kết với nhau trong một toàn thể đồng thuận trong đó mỗi cá nhân, mỗi cộng đồng đều tự do lao động, sáng tạo, sản xuất kinh doanh, hợp tác và cạnh tranh với nhau để cùng nhau tiến bộ, rút bớt khoảng cách giữa nhau. Và để đạt được mục đích đó, tất cả những tự do trên đây đều được đặt trong khuôn khổ những nhìn nhận chung, những quy ước và thể chế chung được lập ra vì lợi ích của toàn cầu. Ta gọi đó là toàn cầu hoá.

Toàn cầu hóa, về thực chất, là quá trình tăng lên mạnh mẽ những mối liên hệ, sự ảnh hưởng, tác động lẫn nhau, phụ thuộc lẫn nhau của tất cả các khu vực, các quốc gia, các dân tộc trên toàn thế giới, hay nói như C. Mác, là quá trình lịch sử biến thành lịch sử thế giới. Toàn cầu hóa là giai đoạn mới, giai đoạn phát triển cao của quá trình quốc tế hóa đã diễn ra từ nhiều thế kỷ trước đây. Hình thức biểu hiện đầu tiên của toàn cầu hoá đó chính là toàn cầu hoá kinh tế. Sự xuất hiện xu thế toàn cầu hóa kinh tế bắt nguồn từ sự phát triển của lực lượng sản xuất, từ tính chất xã hội hóa của lực lượng sản xuất trên phạm vi quốc gia và quốc tế, từ nền kinh tế thị trường thế giới. Sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ với quá trình biến khoa học thành lực lượng sản xuất trực tiếp, sự phát triển của các công nghệ cao (công nghệ sinh học, công nghệ thông tin, công nghệ vật liệu mới, công nghệ vũ trụ…) đã làm thay đổi về chất lực lượng sản xuất của loài người, đưa loài người từ nền văn minh công nghiệp lên văn minh tin học, từ cơ khí hóa sản xuất lên tự động hóa, tin học hóa sản xuất. Cách mạng khoa học và công nghệ đang tạo ra những biến đổi căn bản và sâu sắc không những trong công nghệ, trong sản xuất, mà còn trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội. C. Mác và Ph. Ăng – ghen đã vạch rõ : “Vì luôn bị thúc đẩy bởi nhu cầu về những nơi tiêu thụ sản phẩm, giai cấp tư sản xâm lấn khắp toàn cầu. Nó phải xâm nhập vào khắp nơi, trụ lại ở khắp nơi và thiết lập những mối liên hệ ở khắp nơi… Do bóp nặn thị trường thế giới, giai cấp tư sản đã làm cho sản xuất và tiêu dùng của tất cả các nước mang tính chất thế giới…”(6, tr.601).

         Đồng thời với quá trình toàn cầu hoá kinh tế là sự ra đời của các tổ chức quốc tế và khu vực về chính trị, kinh tế, thương mại, tài chính. Trước hết phải kể đến Liên hợp quốc (UN) với 191 nước thành viên, tức là chiếm đại bộ phận các nước trên thế giới. Liên hợp quốc cùng các tổ chức trực thuộc của mình như UNDP, UNESCO, UNFPA, UNICEF, FAO… đang tác động đến tất cả các nước trên phạm vi toàn cầu. Ngoài ra là các tổ chức khác như Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Ngân hàng thế giới (WB)… có vai trò ngày càng tăng trong việc giải quyết những vấn đề kinh tế, chính trị chung của thế giới và khu vực, như giải quyết các cuộc khủng hoảng tài chính – tiền tệ ở Thái Lan, In-đô-nê-xi-a, Hàn Quốc, Liên bang Nga, Bra-xin… hay việc can thiệp của các tổ chức này cùng với chính phủ của nhiều quốc gia vào việc kìm hãm sự suy thoái kinh tế trong giai đoạn hiện nay của thế giới. Đến lượt mình, các tổ chức này lại thúc đẩy quá trình toàn cầu hóa.

Do vậy, chúng ta không thể hiểu toàn cầu hoá một cách đơn giản, phiến diện, mà cần nhìn nhận nó như là một quá trình phức tạp, đầy mâu thuẫn, có tính chất hai mặt, chứa đựng cả mặt tích cực lẫn mặt tiêu cực, cả thời cơ và thách thức đối với tất cả các quốc gia, trong đó các nước đang phát triển, chậm phát triển chịu nhiều thách thức gay gắt hơn:

Về kinh tế, toàn cầu hóa tạo cơ hội cho sự phát triển kinh tế thông qua việc tự do hóa thương mại, thu hút đầu tư, chuyển giao khoa học-công nghệ, nâng cao năng lực cạnh tranh của hàng hóa, dịch vụ, tạo điều kiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy chuyển dịch nền kinh tế sang kinh tế thị trường. Tuy nhiên, toàn cầu hóa kinh tế có thể làm gia tăng nợ nước ngoài của các quốc gia, đặc biệt là các quốc gia chậm phát triển và đang phát triển. Toàn cầu hóa cũng làm tăng sự phụ thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia, từ đó có thể hạn chế, làm suy giảm sự độc lập tự chủ về kinh tế của các nước chậm và đang phát triển. Ngoài ra, Toàn cầu hóa kinh tế cũng có thể đem đến nguy cơ ô nhiễm môi trường sinh thái do sử dụng các công nghệ lạc hậu mà các nước phát triển loại ra.

Về chính trị, toàn cầu hoá cũng dẫn các nước chậm phát triển tới nguy cơ xói mòn quyền lực nhà nước dân tộc, thu hẹp đáng kể quyền lực, phạm vi và hiệu quả tác động của nhà nước do vai trò kinh tế của nhà nước có thể bị giảm sút bởi sự chi phối của các công ty xuyên quốc gia, bởi sức ép của IMF, WB, WTO…; đồng thời từ chỗ phụ thuộc về kinh tế sẽ dẫn đến phụ thuộc về chính trị và thậm chí, thông qua con đường trao đổi, hợp tác kinh tế, đầu tư, viện trợ, cho vay theo hướng khuyến khích tư nhân hóa, tự do hóa tư sản, các nước phát triển đứng đầu là Mỹ đã áp đặt mô hình chính trị của mình vào các nước khác, sử dụng “sức mạnh mềm”, “sức mạnh cứng” (có thể hiểu là dùng vũ lực) và “sức mạnh thông minh, khôn khéo” (là sự kết hợp “ sức mạnh cứng” và “ sức mạnh mềm”) để thay đổi các chế độ xã hội ở đây theo hướng thân phương Tây.

Về văn hóa – tư tưởng, toàn cầu hóa một mặt tạo điều kiện cho việc mở rộng giao lưu quốc tế, tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc; tạo điều kiện cho việc tiếp thu những thành tựu của văn hóa nhân loại cũng như phổ biến và khẳng định bản sắc văn hóa của dân tộc mình, đồng thời nó cũng tạo điều kiện cho việc hiện đại hóa và làm phong phú nền văn hóa của dân tộc; mặt khác, nó cũng là nguy cơ làm mai một bản sắc văn hóa dân tộc. Thông qua toàn cầu hóa, lối sống thực dụng, vị kỷ, chủ nghĩa cá nhân, “văn hóa phẩm” độc hại dễ dàng được du nhập, đặc biệt là thông qua các phương tiện truyền thông. Hiện nay, dưới ảnh hưởng của công nghệ thông tin, ý thức hệ của Mỹ, lối sống Mỹ, văn hóa Mỹ, phim ảnh Mỹ, đồ ăn thức uống Mỹ… đang được truyền bá rộng khắp thế giới đến nỗi một số người coi toàn cầu hóa là “Mỹ hóa toàn cầu”, là sự đồng nhất hóa các hệ giá trị văn hóa với nguy cơ xuất hiện của nền “văn hóa đồng phục” đang đe dọa, làm hạn chế khả năng sáng tạo, sự đa dạng và phong phú của các nền văn hóa khác trên thế giới. Đó chính là toàn cầu hóa văn hóa. Tuy nhiên cũng vẫn còn nhiều cách nhìn nhận khác nhau về toàn cầu hóa văn hóa.

Nhưng có thể khẳng định rằng bên cạnh quá trình toàn cầu hóa kinh tế đang diễn ra như là một xu thế tất yếu và đang trở thành đề tài sôi nổi và nóng bỏng trên toàn thế giới, thì chúng ta còn nhận ra một trào lưu toàn cầu hóa khác, thậm chí còn quyết liệt hơn, sâu sắc hơn, đó là toàn cầu hóa về văn hóa. Với tính đặc thù và tính độc lập tương đối của mình, quá trình toàn cầu hoá văn hoá diễn ra gần song song với toàn cầu hoá nói chung, và toàn cầu hoá về kinh tế nói riêng. Trên cơ sở sự tăng cường mạnh mẽ của toàn cầu hoá kinh tế; sự tăng cường mạnh mẽ của các thành tựu khoa học công nghệ, đặc biệt là giao thông và viễn thông; sự tăng cường giao lưu ảnh hưởng và xích lại gần nhau giữa các dân tộc, các quốc gia, khiến văn hoá các dân tộc có nhiều cơ hội giao lưu ảnh hưởng, cọ sát, học hỏi, chia sẻ lẫn nhau. Trong quá trình như vậy, một mặt văn hoá các dân tộc vừa phong phú, đa dạng hơn, mặt khác cũng không loại trừ sự mất mát, thui chột của các nền văn hoá, các yếu tố văn hoá đã lỗi thời, không còn sức sống cạnh tranh. Như vậy, cũng như toàn cầu hoá nói chung, mà cốt lõi của nó là toàn cầu hoá kinh tế, thì toàn cầu hoá văn hoá cũng là điều hiện hữu. Vấn đề chỉ còn là toàn cầu hoá văn hoá như thế nào, theo kiểu nào, mức độ nào mà thôi.

 Trần Ái Quốc

Danh sách tài liệu tham khảo:

 1. Báo cáo phát triển con người Việt Nam, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2001.

2. Tạp chí Triết học, số 3, 5/2003.

3. Nguyễn Văn Dân (chủ biên), Những vấn đề của toàn cầu hoá kinh tế, Nxb. KHXH. Hà Nội, 2001

4. Việt Nam trong thế kỷ XX, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 2002.

5. Nguyễn Chí Tình, Văn hoá và Thời đại, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội, 2003

6.C. Mác-Ph. Ăng-ghen, Toàn tập, t 4, Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội, 1995.

7. Thành Duy, Văn hoá Việt Nam trước xu thế toàn cầu hoá – thời cơ và thách thức, Nxb Văn hoá Thông tin, Viện Văn hoá, 2007.

8. Phạm Thái Việt, Toàn cầu hoá: Những biến đổi lớn trong đời sống chính trị quốc tế và văn hóa, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2006.

 

 

Advertisements

3 comments on “Một số lý thuyết về toàn cầu hóa hiện nay!

  1. Toàn cầu hóa là khái niệm dùng để miêu tả các thay đổi trong xã hội và trong nền kinh tế thế giới, tạo ra bởi mối liên kết và trao đổi ngày càng tăng giữa các quốc gia, các tổ chức hay các cá nhân ở góc độ văn hóa, kinh tế, v.v… trên quy mô toàn cầu.Đó là một xu hướng tất yếu chung mà toàn nhân loại hướng đến để có một xã hội văn minh hơn. Đó là cái đích mà tất cả các quốc gia đều hướng đến.

  2. ặc dù được tiếp cận dưới nhiều góc độ khác nhau, với những mục đích khác nhau nhưng hầu hết các nhà nghiên cứu đều cho rằng toàn cầu hoá trước hết là khái niệm dùng để chỉ toàn cầu hoá về kính tế, sau đó nó tác động ảnh hưởng đến các lĩnh vực khác.và Việt Nam đang từng bước đi lên, từng bước phát triển để đạt đến mục tiêu chung củaủa toàn xã hội.

  3. Dù lí thuyết thế nào nhưng khi vận dụng phải thật linh hoạt, khôn khéo. Trong thời gian qua, vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế đang ngày càng được khẳng định, được cả thế giới công nhận

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất /  Thay đổi )

Google photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google Đăng xuất /  Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất /  Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất /  Thay đổi )

Connecting to %s