68 NĂM TRUYỀN THỐNG VINH QUANG CỦA LỰC LƯỢNG CÔNG AN NHÂN DÂN VIỆT NAM

 Đất nước chúng ta tuy chưa phải là cường quốc, nhưng đất nước chúng ta luôn chiến thắng các cường quốc”. Kế thừa truyền thống oai hùng 4000 năm dựng nước và giữ nước của ông cha ta, dân tộc ta và dưới ánh sáng soi đường của Đảng Cộng Sản Việt Nam quang vinh, của Bác Hồ kính yêu, kể từ khi ra đời và cho đến nay, lực lượng Công An Nhân Dân Việt Nam đã không ngừng lớn mạnh, làm nên biết bao chiến công oanh liệt, góp phần to lớn trong sự nghiệp dựng xây và bảo vệ nước nhà.

            Hình thành trong cao trào cách mạng Xô Viết Nghệ Tĩnh (1930 -1931), tổ chức tiền thân của lực lượng Công An Nhân Dân Việt Nam là các đội Tự Vệ Đỏ với sứ mệnh là lực lượng xung kích tiên phong bảo vệ các cơ quan, tổ chức Đảng, bảo vệ nhân dân, bảo vệ cách mạng, trước sự chống phá, đàn áp điên cuồng của Thực Dân Pháp, Phong kiến, tay sai, đặt nền móng quan trọng cho sự toàn thắng của cách mạng tháng 8 long trời lở đất, rung động năm châu, chấn động địa cầu của dân tộc ta.

 Cách mạng tháng 8/1945 thành công, lịch sử dân tộc ta bước sang trang mới, dưới sự lãnh đạo của Đảng, của Chủ Tịch Hồ Chí Minh, nhân dân ta đã đứng lên đập tan mọi xiềng xích nô lệ, giành lấy chính quyền. Để bảo vệ thành quả cách mạng to lớn mà nhân dân ta vừa đạt được, các tổ chức Công An Nhân Dân nhanh chóng ra đời ở tất cả các địa phương trong cả nước, Ở Bắc Bộ sau khi chiếm lĩnh Ty Cảnh sát và các quận, đồn cảnh sát của địch, ta đã lập Sở Liêm Phóng và Ty Cảnh sát. Tại Trung bộ, Ủy ban nội vụ Trung bộ quyết định thành lập Sở trinh sát. Ở Nam bộ, ủy ban hành chính lâm thời đã quyết định thành lập Quốc gia tự vệ cuộc. Sự ra đời của lực lượng CAND Việt Nam ngày 19/8/1945 là một tất yếu khách quan. Vừa mới ra đời lực lượng CAND Việt Nam đã bước ngay vào cuộc chiến đấu gian khổ, gay go phức tạp và lập lên những chiến công vô cùng vẻ vang oanh liệt, đã đập tan mọi âm mưu thâm độc và hoạt động của bọn phản cách mạng, bọn gian tặc khác, Lực lượng Công an đã anh dũng mưu trí kịp thời khám phá các âm mưu và hoạt động phá hoại của bọn đặc vụ Tưởng, bọn mật thám gián điệp Pháp câu kết với các loại phản động trong các đảng phái chính trị phản động, tiêu diệt các sào huyệt gây tội ác giết người của chúng, kịp thời đập tan âm mưu gây rối, gây bạo loạn hòng lật đổ chính quyền dân chủ nhân dân, bảo vệ thắng lợi chính quyền cách mạng non trẻ. Điển hình trong thời gian này lực lượng CAND đã khám phá vụ “Ôn Như Hầu” đập tan âm mưu của bọn quốc dân đảng, đại việt câu kết với thực dân Pháp hòng lật đổ chính phủ cách mạng. Ở nam bộ, với danh nghĩa quân đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật, Tháng 9/1945 quân đội Anh kéo vào Sài gòn và trắng trợn giúp đỡ Thực Dân Pháp xâm lược nước ta lần thứ hai. Những ngày đầu cuộc kháng chiến ở Nam bộ, Quốc gia tự vệ cuộc đã trở thành lực lượng vũ trang chủ yếu của Đảng, nhân dân ta vừa thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Đảng, chính quyền, đoàn thể và nhân dân rút ra căn cứ chuẩn bị kháng chiến lâu dài vừa tổ chức các trận chiến đấu vũ trang kìm chân địch, xây dựng cơ sở phá tề trừ gian. Để đáp ứng các yêu cầu cấp bách bảo vệ cách mạng, theo chủ trương của Trung ương Đảng, ngày 21/2/1946 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký sắc lệnh số 23-SL thống nhất các lực lượng Liêm Phóng, Cảnh sát, Trinh sát, Quốc gia tự vệ cuộc trong toàn quốc thành “Việt Nam Công An Vụ”. Đồng chí Lê Giản được giao nhiệm vụ Giám đốc Việt Nam Công An Vụ đầu tiên. Tiếp đó ngày 18/4/1946 Bộ Nội vụ ra quyết định số 121-NĐ về tổ chức Việt Nam Công An Vụ. Nghị định quy định Việt Nam Công An Vụ có 3 cấp: Nha công an Trung ương, Sở công an kỳ, Ty công an tỉnh. Đây là sự kiện lịch sử trọng đại của ngành Công an, đánh dấu sự thống nhất về cơ cấu tổ chức bộ máy Công an trong cả nước, đồng thời thể hiện sự quan tâm của Đảng, Nhà nước trong xây dựng lực lượng Công an, chuẩn bị cho lực lượng CAND bước vào thời kì kháng chiến thắng lợi.

1

Trong chín năm kháng chiến chống Thực Dân Pháp trường kì gian khổ, lực lượng Công an nhân dân vừa chiến đấu vừa xây dựng lực lượng và trưởng thành trong thực tiễn, cùng với sự phân chia cơ cấu hành chính của cả nước thành các khu, ngành Công an cũng khẩn trương điều chỉnh cơ cấu tổ chức theo hướng tinh gọn bộ máy để đảm bảo tính cơ động gọn nhẹ phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ Công an trong tình hình đất nước có chiến tranh. Ngày 5/4/1948 theo Nghị Định số 291/NĐ của Bộ Trưởng Bộ Nội Vụ Phan Kế Toại, Nha Công An Việt Nam đổi tên thành Nha Công An Trung ương, các khu hợp lại thành các liên khu. Từ năm 1947 đến năm 1953 Nha Công An và sau này là Thứ Bộ Công An và Bộ Công An đã tổ chức được tám cuộc Hội nghị Công an toàn quốc và bốn cuộc Hội nghị chuyên đề nghiệp vụ (Hội nghị điều tra lần thứ nhất do Nha công an tổ chức từ ngày 20-6 đến 4-7-1949, Hội nghị Công an trật tự lần thứ nhất do Nha Công An tổ chức ngày 2-8-1950, Hội nghị trinh sát lần thứ nhất do Thứ Bộ Công An tổ chức từ ngày 25-5 đến 1-6-1953, Hội nghị trị an hành chính lần thứ nhất do Bộ Công An tổ chức từ ngày 4 đến 20-5-1954). Qua các Hội nghị này lực lượng Công an đã tổng kết được nhiều bài học kinh nghiệm về hoạt động nghiệp vụ của mình góp phần ngày càng nâng cao khả năng và kết quả công tác chiến đấu. Về tổ chức bộ máy của lực lượng Công an cũng không ngừng được củng cố hoàn thiện cho phù hợp vơí thực tiễn chiến đấu. Trong các Hội nghị Công an toàn quốc lần thứ nhất và lần thứ 2, Nghị quyết hội nghị đều ghi rõ là tiếp tục củng cố bộ máy Công an gọn nhẹ, bí mật, phù hợp với tình hình hiện tại. Đặc biệt là tại Hội nghị Công An toàn quốc lần thứ 6 và lần thứ 7 lực lượng Công an đã triển khai hệ thống tổ chức mới và tổng kết rút ra 7 kết luận quan trọng mang tính lý luận nghiệp vụ (đó là kết luận về bảo vệ cơ quan, công tác điều tra nghiên cứu, công tác bắt và xét xử, công tác hỏi cung, công tác quản chế, công tác kiểm soát sự ra vào trong vùng tạm chiếm và vấn đề công an xã), 7 kết luận Hội Nghị được ban Bí thư Trung ương duyệt trở thành định hướng có tính nguyên tắc trong chỉ đạo và hoạt động của lực lượng Công an, toàn lực lượng coi đây là giáo trình căn bản đầu tiên tiến hành các công tác nghiệp vụ sau này. Ngày 16-2-1953 Chủ tịch Hồ Chí Minh ký Sắc lệnh số 141-SL đổi Nha Công An Trung ương thành Thứ Bộ Công An trực thuộc Hội đồng Chính phủ. Đồng chí Trần Quốc Hoàn ủy viên Trung ương Đảng được cử giữ chức Thứ trưởng Thứ Bộ Công an. Trong cuộc họp Hội đồng Chính phủ từ ngày 27-29 tháng 8-1953, dưới sự chủ tọa của Hồ Chủ Tịch, đã quyết định đổi tên Thứ Bộ Công an thành Bộ Công an. Đồng chí Trần Quốc Hoàn ủy viên trung ương Đảng được cử giữ chức Bộ trưởng Bộ Công an, lực lượng Công An ngày càng được củng cố kiện toàn về mọi mặt. Sau Hiệp định Giơnevơ (1954) đất nước ta tạm thời chia thành 2 miền và tiến hành 2 nhiệm vụ chiến lược: Cách mạng XHCN ở miền Bắc và Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam. Thời kỳ sau khi giải phóng, ở miền Bắc kẻ địch đã tổ chức và cài cắm lại hàng vạn tên Phỉ ở vùng Đông bắc và Tây bắc của Tổ quốc. Để giữ vững an ninh – trật tự ở miền Bắc lực lượng Công an phối hợp với lực lượng Quân đội và nhân dân đã tiến hành tiêu diệt và làm tan rã toàn bộ số Phỉ, gián điệp mà Pháp – Mỹ để lại, đã nhanh chóng ổn định An ninh – trật tự ở các vùng biên cương phía Bắc. Bị thất bại trong các chiến lượng xâm lược ở miền Nam, đế quốc Mỹ leo thang gây chiến tranh phá hoại ở miền Bắc. Với tình hình mới và để chống hoạt động phá hoại của Mỹ ngụy, lực lượng Công an chúng ta luôn gắn bó máu thịt với nhân dân, dựa vào dân mà chiến đấu bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng, cùng với Đảng và nhân dân bước vào cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Từ khi hòa bình được lập lại ở miền Bắc lực lượng Công An Nhân Dân đã coi trọng công tác đấu tranh chống tội phạm hình sự, chúng ta đã huy động nhiều lực lượng, phát động nhiều đợt, nhiều chiến dịch quét vét đấu tranh xử lý bọn lưu manh, côn đồ chuyên nghiệp, khám phá và trừng trị bọn trộm cướp, bọn xâm phạm tài sản XHCN và tài sản của công dân, đảm bảo sự yên ổn về trật tự an toàn xã hội của hậu phương lớn, đồng thời tích cực giải quyết đẩy lùi một số tệ nạn xã hội. Các phong trào bảo vệ trị an mà sau này là phong trào “Bảo Vệ An Ninh Tổ quốc” được phát triển sâu rộng trong nhân dân, trong các cơ quan, xí nghiệp được dấy lên phong trào đấu tranh bảo vệ tài sản XHCN. Góp phần nâng cao tinh thần chiến đấu và cảnh giác cách mạng cho quần chúng nhân dân. Dưới ánh sáng của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 3 (1960) cách mạng Miền Nam ngày càng phát triển và giành được những thắng lợi cơ bản. Các tổ chức An ninh như “ban bảo mật”, “An ninh cơ sở”, “An ninh nhân dân”, không ngừng phát triển, vùng giải phóng dần dần được mở rộng, tháng 2-1962 Hội nghị thành lập lực lượng An ninh nhân dân miền Nam đã được triệu tập. Hội nghị đã lấy tên “ban bảo vệ An ninh” để thống nhất tổ chức Công an miền Nam và xác định nhiệm vụ là: Tham mưu giúp cấp ủy, phát động và hướng dẫn quần chúng, điều tra nắm tình hình địch, phục vụ việc bảo vệ Đảng, bảo vệ cách mạng, bảo vệ các cuộc đấu tranh của nhân dân. Tại các thành phố thị xã và vùng nông thôn do địch kiểm soát, lực lượng An ninh vừa hoạt động bí mật vừa hoạt động vũ trang kết hợp với các cuộc đấu tranh của quần chúng do Đảng lãnh đạo. Bên cạnh đó lực lượng An ninh nhân dân ở miền Nam vừa chiến đấu chống địch tiến hành bảo vệ Đảng, bảo vệ cơ sở cách mạng vừa xây dựng, phát triển lực lượng. Cách mạng Miền Nam ngày càng phát triển giành được thắng lợi to lớn, lực lượng Công an trong cả nước trưởng thành về mọi mặt, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của mình, góp phần to lớn vào sự ngiệp thống nhất đất nước.

Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, đã đưa cách mạng nước ta chuyển sang giai đoạn mới: Cả nước độc lập, thống nhất cùng tiến hành công cuộc xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Phát huy truyền thống tốt đẹp của toàn lực lượng, Công An Nhân Dân đã nhanh chóng triển khai các mặt công tác nhằm ổn định An ninh – trật tự trong phạm vi cả nước, phục vụ nhiệm vụ chiến lược của Đảng. Tại kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa 6 ngày 6/6/1975 của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa quyết định đổi tên Bộ Công an thành Bộ Nội vụ và Nghị quyết này có hiệu lực kể từ ngày 1/8/1975.Trong những năm mới giải phóng lực lượng Công an đã kịp thời điều tra khám phá, kịp thời đập tan hàng chục nhóm tổ chức phản động. ở Tây Nguyên bọn phản động Fulro đẩy mạnh hoạt động gây cho ta khó khăn, thiệt hại. Lực lượng Công an nhân dân đã để xuất với cấp ủy Đảng về những chủ trương đối sách đấu tranh với chúng, đồng thời ra sức tuyên truyền, giác ngộ quần chúng, kết hợp việc phát huy sức mạnh của nhân dân với đẩy mạnh các mặt về công tác nghiệp vụ để đấu tranh truy quét phân hóa làm tan rã tổ chức, lực lượng của bọn Fulro. Ngay sau khi chiếm lĩnh, đập tan các công cụ đàn áp của Mỹ ngụy, lực lượng Công an đã tham gia ban quân quản tiến hành đăng ký cho hàng vạn đối tượng thuộc ngụy quân, ngụy quyền, cảnh sát tình báo, và phản động các loại ra trình diện và tiến hành cải tạo giáo dục họ, liên tục truy quyét tội phạm, bảo vệ bình yên cho nhân dân.

2

Từ những năm cuối thập kỷ 80, tình hình thế giới có nhiều biến động sâu sắc, phức tạp và đến những năm đầu thập kỷ 90 hệ thống XHCN không còn nữa. Trong lúc tình hình kinh tế, xã hội diễn biến phức tạp, có mặt nghiêm trọng, có nhiều biến động xấu, có lúc gay gắt, trong tình hình đó bọn đế quốc và các thế lực thù địch trong và ngoài nước ráo riết tiến hành chiến lược “Diễn biến hòa bình” coi Việt Nam là một trọng điểm tập trung lực lượng, tập trung hoạt động trên mọi lĩnh vực kinh tế – chính trị – văn hóa, xã hội nhằm xâm nhập nội bộ ta, gây rối, gây bạo loạn, xóa bỏ sự lãnh đạo của Đảng ta, lật đổ chế độ XHCN ở Việt Nam. Dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự chỉ đạo của Nhà nước, CAND đã chủ động phát hiện và đấu tranh ngăn chặn âm mưu hoạt động diễn biến hòa bình gây rối, gây bạo loạn của các thế lực thù địch, bảo vệ thành công sự nghiệp xây dựng đất nước sau khi hệ thống XHCN sụp đổ trên thế giới. Bước vào thời kì đổi mới, để xây dựng lực lượng Công an trong sạch vững mạnh, tiến công sắc bén hơn nữa, ngày 7/5/1998 tại kỳ họp thứ 3 Quốc Hội khóa X, Quốc Hội ra Nghị Quyết số 13 NQ/1998/QH đổi tên Bộ Nội Vụ thành Bộ Công an, lực lượng Công an ngày càng kiện toàn về mọi mặt. Trong quá trình thực hiện nhiệm vụ đấu tranh bảo vệ đất nước trong tình hình mới, lực lượng Công an luôn thực hiện tốt chức năng nhiệm vụ của mình, góp phần tích cực vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, đồng thời có thể khẳng định mình rằng trong quá trình đó , lực lượng Công an dưới sự lãnh đạo của Đảng đã và đang từng bước tiến lên chính quy, hiện đại.

3

Để ghi nhận công lao to lớn của lực lượng Công An Nhân Dân trong suốt 68 năm qua  Đảng và Nhà nước đã tặng thưởng cho lực lượng Công An Nhân Dân Việt Nam: 9 Huân chương Sao vàng, 63 Huân chương Hồ Chí Minh, 577 đơn vị và 287 cá nhân được tuyên dương danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang; hàng trăm ngàn đơn vị, cá nhân được tặng thưởng huân, huy chương và các danh hiệu cao quý khác. Phần thưởng lớn nhất mà Công An Nhân Dân Việt Nam nhận được là sự tin cậy của Đảng, Nhà nước và của toàn dân.

         Sen Hong                                                 

Advertisements

TRUY TỐ NGUYỄN ĐỨC KIÊN 4 TỘI DANH

CƠ QUAN CẢNH SÁT ĐIỀU TRA BỘ CÔNG AN ĐÃ HOÀN TẤT ĐIỀU TRA VỤ ÁN LIÊN QUAN ĐẾN ÔNG NGUYỄN ĐỨC KIÊN, THEO ĐÓ ĐỀ NGHỊ TRUY TỐ BẦU KIÊN VỚI 4 TỘI DANH: KINH DOANH TRÁI PHÉP; LỪA ĐẢO CHIẾM ĐOẠT TÀI SẢN; TRỐN THUẾ VÀ CỐ Ý LÀM TRÁI QUI ĐỊNH CỦA NHÀ NƯỚC VỀ QUẢN LÝ KINH TẾ GÂY HẬU QUẢ NGHIÊM TRỌNG.
                                Bị can Nguyễn Đức Kiên
Tin từ Cơ quan Cảnh sát điều tra (CSĐT) Bộ Công an ngày 8-8 cho biết cơ quan này vừa kết thúc điều tra vụ án liên quan đến ông Nguyễn Đức Kiên (thường gọi là bầu Kiên) cùng các đồng phạm sau gần 1 năm điều tra.
Theo đó, Nguyễn Đức Kiên và 7 đồng phạm bị đề nghị truy tố 4 tội danh: Kinh doanh trái phép; Lừa đảo chiếm đoạt tài sản; Trốn thuế và Cố ý làm trái qui định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng xảy ra tại Ngân hàng Thương mại cổ phần Á Châu (Ngân hàng ACB) và một số công ty trên địa bàn TP Hà Nội và TP Hồ Chí Minh.
7 bị can bị can còn lại gồm: Ông Trần Xuân Giá, Chủ tịch HĐQT Ngân hàng ACB; ông Lê Vũ Kỳ; ông Phạm Trung Cang; ông Trịnh Kim Quang, đều nguyên là Phó Chủ tịch HĐQT Ngân hàng ACB; ông Lý Xuân Hải, nguyên Tổng Giám đốc Ngân hàng ACB; ông Trần Ngọc Thanh, Giám đốc Công ty cổ phần Đầu tư ACBI Hà Nội; bà Nguyễn Thị Hải Yến, Kế toán trưởng Công ty cổ phần Đầu tư ACB Hà Nội.
Lập hàng loạt công ty kinh doanh trái phép
Theo kết luận điều tra, năm 1993, Nguyễn Đức Kiên là cổ đông góp vốn lớn của Ngân hàng ACB và sau đó đã giữ chức vụ Phó Chủ tịch HĐQT Ngân hàng này từ năm 1994 đến năm 2008. Trong thời gian làm việc tại Ngân hàng ACB, bầu Kiên tham gia quản trị, điều hành ngân hàng với nhiều vị trí khác nhau, có ảnh hưởng, chỉ đạo và quyết định nhiều hoạt động kinh doanh của Ngân hàng ACB.
Để tránh quy định hạn chế vay vốn từ ngân hàng ACB, hạn chế việc sở hữu chéo tại nhiều ngân hàng thương mại cổ phần và hạn chế nhiều hoạt động kinh doanh riêng khác, bầu Kiên đã rút tên khỏi HĐQT Ngân hàng ACB. Sau đó, bầu Kiên đã thành lập 5 công ty, gồm: Công ty cổ phần Tập đoàn Tài chính Á Châu (Công ty AFG); Công ty cổ phần Đầu tư ACB Hà Nội (Công ty ACBI); Công ty cổ phần Đầu tư Á Châu (Công ty ACI); Công ty TNHH đầu tư tài chính Á châu Hà Nội (Công ty ACI-HN) và Công ty CP đầu tư thương mại B & B (Công ty B&B). Trong đó, Nguyễn Đức Kiên làm Chủ tịch HĐQT của 4 Công ty B&B, AFG, ACBI, ACI và Chủ tịch Hội đồng thành viên Công ty ACI-HN.
Mặc dù không được Nhà nước cấp phép kinh doanh tài chính, nhưng bầu Kiên đã chỉ đạo 5 công ty trên sử dụng hơn 9.700 tỉ đồng từ vốn điều lệ, tiền huy động và tiền thu được từ việc phát hành trái phiếu bán cho các ngân hàng. Để nâng giá trị cổ phiếu Ngân hàng ACB, bầu Kiên và Thường trực HĐQT Ngân hàng này đã ra chủ trương cấp tiền cho Công ty ACBS là công ty chứng khoán do Ngân hàng ACB sở hữu 100% vốn điều lệ để mua cổ phiếu Ngân hàng ACB.
Bầu Kiên và Thường trực HĐQT Ngân hàng đã chỉ đạo Ngân hàng ACB cấp cho Công ty ACBS 1.500 tỉ đồng cùng vốn tự có, Công ty ACBS đã chuyển cho các Công ty ACI, ACI-HN tổng số tiền hơn 1.557 tỉ đồng để đứng tên mua hộ hơn 52,5 triệu cổ phiếu ACB, đến nay mới thu về hơn 364 tỉ đồng tiền gốc, còn lại 1.193 tỉ đồng chưa thu về, trong khi số cổ phiếu Ngân hàng ACB còn lại là hơn 19,5 triệu cổ phiếu, bị mất 32,9 triệu cổ phiếu, gây thiệt hại hơn 614 tỉ đồng (tính theo đơn giá cổ phiếu lúc mua) và thiệt hại hơn 879 tỉ đồng (tính theo giá trị cổ phiếu hiện tại).
Ngoài ra, cơ quan điều tra cũng làm rõ hành vi trốn thuế với số tiền hơn 25 tỉ đồng của Nguyễn Đức Kiên trong vụ kinh doanh vàng giữa Công ty B&B và Ngân hàng ACB. Cụ thể, trong quá trình kinh doanh, công ty của bầu Kiên đã thu được lãi trên 100 tỉ đồng, song bầu Kiên đã chỉ đạo Công ty B&B không kê khai nộp thuế thu nhập doanh nghiệp mà chuyển lợi nhuận doanh nghiệp sang cho thuộc cấp để trốn thuế hơn 25 tỉ đồng. Số tiền này được chuyển lại toàn bộ cho Công ty B&B để bầu Kiên sử dụng vào hoạt động kinh doanh khác.
Chiếm đoạt tiền của Thép Hòa Phát
Bầu Kiên và đồng phạm cũng đã thực hiện hành vi lừa đảo, chiếm đoạt tài sản của Công ty TNHH một thành viên Thép Hòa Phát.
Theo đó, với vai trò là Chủ tịch HĐQT Công ty ACBI, ngày 11-5-2010, bầu Kiên đã chỉ đạo Trần Ngọc Thanh, Giám đốc Công ty ACBI ký hợp đồng thế chấp 22,497 triệu cổ phần Công ty cổ phần thép Hòa Phát vào Ngân hàng ACB để đảm bảo cho việc Công ty ACBI phát hành trái phiếu trị giá 800 tỉ đồng tại Ngân hàng ACB.
Đến tháng 4-2012, bầu Kiên đã giao dịch trực tiếp với ông Trần Đình Long, Chủ tịch HĐQT và ông Trần Tuấn Dương, Tổng Giám đốc Công ty cổ phần Tập đoàn Hòa Phát, về việc bán 20 triệu cổ phiếu của Công ty cổ phần Thép Hòa Phát do ACBI đang sở hữu với số tiền 264 tỉ đồng cho Tập đoàn Hòa Phát.
Mặc dù chưa được Ngân hàng ACB và Công ty ACBS chấp thuận cho giải tỏa 20 triệu cổ phiếu trong tổng số gần 22,5 triệu cổ phiếu đang thế chấp nhưng ngày 15-5-2012, ông Kiên đã chỉ đạo Nguyễn Thị Hải Yến (kế toán trưởng Công ty ACBI) soạn thảo quyết định của HĐQT và biên bản họp HĐQT để ông Kiên ký quyết định và biên bản họp thể hiện chủ trương của HĐQT trong khi thực tế không họp HĐQT công ty về việc chuyển nhượng 20 triệu cổ phiếu này.
Sau đó, ông Kiên đã ký nháy hợp đồng để bán số cổ phiếu trên cho Công ty TNHH một thành viên Thép Hòa Phát lấy 264 tỉ đồng. Số tiền thu được, ông Kiên đã chỉ đạo sử dụng vào mục đích riêng. Đến thời điểm này, Thép Hòa phát vẫn chưa nhận được 20 triệu cổ phiếu như hợp đồng.
Cố ý làm trái, thiệt hại hơn 1.400 tỉ đồng cho ACB
Với hành vi cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng, khi còn là Chủ tịch Hội đồng đầu tư Ngân hàng ACB, bầu Kiên biết rõ quy định của Ngân hàng Nhà nước về trần lãi suất và các quy định kinh doanh chứng khoán song vẫn đề xuất, chỉ đạo Thường trực HĐQT Ngân hàng ACB ra chủ trương ủy thác cho nhân viên gửi tiền vào các tổ chức tín dụng; ra chủ trương cấp tín dụng cho Công ty TNHH chứng khoán ACB mua cổ phiếu ngân hàng ACB sai quy định, gây hậu quả nghiêm trọng đến việc thực hiện chính sách tài chính, tiền tệ của Nhà nước, thu lợi bất chính cho nhóm cổ đông Ngân hàng ACB hơn 256 tỉ đồng và trực tiếp gây thiệt hại cho Ngân hàng ACB hơn 1.407 tỉ đồng.
Việc Nguyễn Đức Kiên chỉ đạo ủy thác cho 19 nhân viên Ngân hàng ACB gửi tiền vào Ngân hàng Vietinbank đã bị Huỳnh Thị Huyền Như, nguyên Phó Phòng quản lý rủi ro Ngân hàng Vietinbank Chi nhánh TP Hồ Chí Minh chiếm đoạt, gây thiệt hại cho Ngân hàng ACB gần 719 tỉ đồng.
Đối mặt với mức án “kịch khung” chung thân
Trước đó, như Báo Người Lao Động đã đưa, ngày 21-8-2012, Cơ quan điều tra Bộ Công an đã khởi tố bị can, bắt tạm giam đối với ông Nguyễn Đức Kiên (SN 1964, Chủ tịch CLB Bóng đá Hà Nội, Phó Chủ tịch HĐQT Công ty Cổ phần Bóng đá chuyên nghiệp – VPF, thường gọi “bầu” Kiên) để điều tra về tội Kinh doanh trái phép theo điều 159 Bộ Luật Hình sự. Tội danh này có khung hình phạt cao nhất 2 năm tù.
Tiếp đó, ngày 18-9-2012, “bầu” Kiên đã bị Cơ quan điều tra Bộ Công an khởi tố bổ sung 2 tội danh Cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng theo Điều 165 và Lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 139 – Bộ Luật Hình sự. Trong đó, tội Cố ý làm trái quy định của nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng có khung hình phạt cao nhất là 20 năm tù, còn tội Lừa đảo chiếm đoạt tài sản có khung hình phạt cao nhất tới chung thân.
Đầu tháng 7-2013, Cơ quan điều tra Bộ Công an lại quyết định khởi tố bổ sung vụ án, tội danh “Trốn thuế” đối với bị can Nguyễn Đức Kiên. Tội danh này có mức án cao nhất là 7 năm tù.
Nguyễn Quyết/NLĐ

Quân ủy Trung ương sơ kết 2 năm thực hiện quy chế dân chủ cơ sở

Ngày 15-5, Quân ủy Trung ương tổ chức hội nghị trực tuyến sơ kết 2 năm thực hiện Chỉ thị 590 của Quân ủy Trung ương “Về tiếp tục đẩy mạnh xây dựng và thực hiện quy chế dân chủ cơ sở trong quân đội” (2010-2012). Thượng tướng Nguyễn Thành Cung, Ủy viên Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Trưởng ban chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ cơ sở của Quân ủy Trung ương chủ trì hội nghị.

Dự hội nghị có các đồng chí Nguyễn Thế Trung, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó trưởng ban thường trực Ban Dân vận Trung ương; Trung tướng Đào Duy Minh, Phó chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Phó trưởng ban chỉ đạo thực hiện quy chế dân chủ cơ sở (QCDCCS) thuộc Quân ủy Trung ương; Thiếu tướng Phan Văn Giang, Phó Tổng tham mưu trưởng, Phó trưởng ban chỉ đạo thực hiện QCDCCS của Quân ủy Trung ương và 1.270 đại biểu là các đồng chí trong Đảng ủy, Ban chỉ đạo và cơ quan thường trực Ban chỉ đạo thực hiện QCDCCS của các đầu mối trực thuộc Quân ủy Trung ương ở 34 điểm cầu.

Quang cảnh hội nghị trực tuyến sơ kết 2 năm thực hiện QCDCCS tại điểm cầu K2000.

Báo cáo trung tâm của Hội nghị do Trung tướng Đào Duy Minh trình bày và các ý kiến phát biểu đều cho rằng: Qua hai năm thực hiện QCDCCS, nhận thức của cán bộ, chiến sĩ, đoàn viên, hội viên về xây dựng và thực hiện QCDCCS ngày càng đầy đủ và sâu sắc hơn. Cấp ủy, chỉ huy các cơ quan, đơn vị đã bổ sung, hoàn thiện hệ thống quy chế làm việc của cấp ủy và quy chế hoạt động lãnh đạo trên từng mặt công tác, trong đó tập trung vào một số lĩnh vực nhạy cảm như: Công tác cán bộ, công tác tuyển sinh, đào tạo, công tác tài chính, xây dựng cơ bản, mua sắm vật tư trang bị, chế độ tuyển dụng lao động, chế độ tiền lương, tiền thưởng… theo hướng mở rộng dân chủ, giữ vững nguyên tắc và mối quan hệ giữa cấp ủy, chỉ huy với cán bộ, chiến sĩ. Cán bộ các cấp đã coi trọng đối thoại dân chủ với nhiều hình thức, đa dạng, phong phú, kịp thời giải quyết vướng mắc từ cơ sở, tạo sự đoàn kết, thống nhất trong đơn vị. Các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân đã phát huy dân chủ tham gia ý kiến, hiến kế và bàn biện pháp thực hiện nghị quyết của các cấp ủy đảng, chỉ thị, mệnh lệnh người chỉ huy và các mặt hoạt động của đơn vị. Nhờ thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở nên tư tưởng của cán bộ, chiến sĩ toàn quân luôn xác định tốt nhiệm vụ; nhiều đơn vị không có đơn thư tố cáo, khiếu nại vượt cấp.

Hội nghị cũng nhất trí và đi sâu phân tích những khuyết điểm, hạn chế và nguyên nhân tồn tại trong thực hiện quy chế dân chủ cơ sở như: Nhận thức của một số cấp ủy, chỉ huy về thực hiện quy chế dân chủ cơ sở chưa đầy đủ; dân chủ trong hoạt động lãnh đạo của các tổ chức đảng còn hạn chế, còn biểu hiện bệnh thành tích, dân chủ hình thức, xuôi chiều, nể nang, né tránh, chưa mạnh dạn bày tỏ chứng kiến để bảo vệ cái đúng, đấu tranh với nhận thức, hành vi sai trái; một số cán bộ chưa thực sự sâu sát với bộ đội, nặng về mệnh lệnh hành chính, thiếu kiểm tra, đôn đốc, nhắc nhở. Hoạt động của các tổ chức quần chúng và hội đồng quân nhân ở một số đơn vị còn hình thức; tình hình vi phạm kỷ luật ở một số đơn vị cao.

Kết luận hội nghị, Thượng tướng Nguyễn Thành Cung khẳng định: Thực hiện Chỉ thị 590 của Đảng ủy Quân sự Trung ương (nay là Quân ủy Trung ương) các đơn vị đã triển khai nghiêm túc, có hiệu quả thiết; tạo thành sức mạnh tổng hợp xây dựng Đảng bộ Quân đội ngày càng trong sạch vững mạnh; quân đội vững mạnh toàn diện; nâng cao khả năng, trình độ sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ Tổ quốc. Những hạn chế, khuyết điểm được phân tích tại hội nghị sẽ được Ban chỉ đạo thực hiện QCDCCS của Quân ủy Trung ương nghiên cứu, điều chỉnh cho phù hợp, để phát huy tốt nhất việc thực hiện quy chế dân chủ cơ sở. Trên cơ sở những hạn chế, khuyết điểm mà các đại biểu đã chỉ ra, thay mặt Ban chỉ đạo thực hiện QCDCCS tôi đề nghị các cơ quan, đơn vị làm tốt “4 chống”: Chống bệnh hình thức, áp đặt ý kiến cá nhân; chống khoán trắng cho Ban chỉ đạo thực hiện QCDCCS và cơ quan chuyên môn; chống bệnh quan liêu, không sâu sát cơ sở, xa rời quần chúng và chống nói nhiều, hứa nhiều, làm ít.

Nguồn QDND

Chính thức nghiệm thu hệ thống mô phỏng huấn luyện bắn tên lửa B72

Ngày 7-5, thông tin từ Viện Khoa học và Công nghệ quân sự (Bộ Quốc phòng) cho biết, sau một thời gian thử nghiệm thành công tại Tiểu đoàn 371 (Binh chủng Pháo binh), Viện Khoa học và Công nghệ quân sự phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông TP Hồ Chí Minh đã chính thức nghiệm thu sản phẩm “Hệ thống mô phỏng huấn luyện bắn tên lửa chống tăng B72”.

mohinh

B72 là loại tên lửa chống tăng hiện đang được biên chế trong quân đội. Tên lửa được trắc thủ bắn điều khiển bằng tay, thông qua hệ thống dây hữu tuyến. Độ chính xác bắn của tên lửa phụ thuộc rất nhiều vào trình độ, kỹ năng, kinh nghiệm của trắc thủ cũng như các điều kiện khách quan như thời tiết, địa hình… Chính vì vậy, công tác huấn luyện bắn tên lửa chống tăng B72 có vai trò rất quan trọng. Tuy nhiên, hiện trong quân đội ta vẫn chưa có hệ thống trang thiết bị phù hợp để phục vụ huấn luyện bắn loại tên lửa này.

Từ thực tế trên, Viện Khoa học và Công nghệ quân sự phối hợp với Sở Thông tin và Truyền thông TP Hồ Chí Minh đã triển khai dự án nghiên cứu, thiết kế chế tạo hệ thống mô phỏng huấn luyện bắn tên lửa chống tăng B72. Trong đó, kinh phí triển khai dự án gần 10 tỷ đồng do Sở Thông tin và Truyền thông TP Hồ Chí Minh tài trợ.

Hệ thống mô phỏng huấn luyện bắn tên lửa chống tăng B72 được xây dựng trên cơ sở dữ liệu bản đồ số và mô hình địa hình đa lớp, có tính đến các yếu tố tác động bên ngoài sát với điều kiện thực tế. Sản phẩm có khả năng mô phỏng gần như thật quá trình điều khiển tên lửa từ khi bắt đầu phóng đến khi chạm mục tiêu, có đánh giá kết quả và có thể dùng để huấn luyện bắn tên lửa chống tăng B72 trong nhiều điều kiện như địa hình phức tạp, địa hình thành phố, địa hình đồi núi, bắn trên biển… Hệ thống mô phỏng huấn luyện bắn tên lửa chống tăng B72 sẽ được trang bị cho các đơn vị pháo binh toàn quân trong thời gian tới.

Theo QDND

Thủy thủ tàu ngầm Kilo Việt Nam bắt đầu huấn luyện trên biển

 Theo Đài tiếng nói nước Nga, phần công việc đào tạo trên biển cho thủy thủ đoàn tàu ngầm dự án 636 dành cho Hải quân Việt Nam đã được bắt đầu tại khu vực Svetlyi, gần Kaliningrad.

1

Đài Nga cho hay, sau khi hoàn thành tiếp thu lý thuyết trên bờ, các thủy thủ bắt đầu phần đào tạo trên biển bao gồm năm chuyến bơi mỗi chuyến 10 ngày.

 

Tàu ngầm do Nga đóng cho Việt Nam đã thực hiện thành công 23 cuộc lặn kể từ thời điểm thử nghiệm.

 

Trong năm nay, xưởng đóng tàu Admiralteisky Verph sẽ bàn giao cho Hải quân Việt Nam hai tàu ngầm diesel-điện dự án 636 Varshavyanka, trong tổng số sáu chiếc theo hợp đồng.

 

Hợp đồng bán sáu tàu ngầm cho Việt Nam được ký năm 2009 trong chuyến thăm Mátxcơva của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng. Bên cạnh việc xây dựng các tàu ngầm, hợp đồng còn có hạng mục đào tạo thủy thủ đoàn Việt Nam, cung cấp các thiết bị và vật tư cần thiết.

 

Theo dantri

Chiến thắng 30/4 và bài học cho hôm nay

Trí tuệ, bản lĩnh, ý chí Việt Nam, niềm tin mãnh liệt về chiến thắng và đoàn kết vì lý tưởng thiêng liêng của cả dân tộc…, tất cả được thể hiện rõ ràng, sinh động trong chiến thắng 30/4.

Nhà sử học Nguyễn Khắc Thuần: Niềm tin là sức mạnh đi đến thắng lợi. Ảnh: VGP/Mai Hồng

Qua Chiến thắng lịch sử này, chúng ta cũng rút ra được nhiều bài học về việc tạo dựng niềm tin về lịch sử dân tộc và trách nhiệm của giới trẻ với nhân dân, với Tổ quốc. Đó là khẳng định của nhà sử học Nguyễn Khắc Thuần, Trưởng khoa Việt Nam học (Trường Đại học Bình Dương).

 

Theo nhà sử học Nguyễn Khắc Thuần, Chiến thắng lịch sử mùa Xuân năm 1975, như nhiều tư liệu đã tổng kết, là “chiến thắng của trí tuệ, bản lĩnh và ý chí Việt Nam”. Đây là kết luận khoa học, phản ánh công phu lao động và trí tuệ của rất nhiều nhà nghiên cứu ở trong và ngoài nước.

Chiến thắng 30/4 đã thể hiện trí tuệ của người VN, trí tuệ phục vụ cho lý tưởng cao đẹp, lý tưởng phản ánh tính nhân văn của cả cộng đồng rộng lớn.

Trong rất nhiều công trình nghiên cứu, nhiều cuốn sách, các nhà khoa học,nhân chứng lịch sử nhấn mạnh về sức mạnh của niềm tin trong Chiến thắng lịch sử 30/4, tạo nên sự quyết định của chiến thắng vĩ đại. Chúng ta đã có niềm tin mãnh liệt rằng chúng ta sẽ thắng lợi. Cả dân tộc có một niềm tin rằng nếu chúng ta đồng tâm, hiệp lực, nhất định chúng ta sẽ thắng.

Gần 40 năm trôi qua kể từ chiến thắng lịch sử 30/4. Nhưng dường như thời gian càng lùi xa, chúng ta càng thấm thía nhiều bài học quí giá của chiến thắng này.

Theo nhà sử học Nguyễn Khắc Thuần, những bài học nêu trên rất thiết thực với công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế hiện nay. Chúng ta đang nỗ lực đi lên bằng trí tuệ mới, bằng ý chí mới, bằng quyết tâm để đưa Việt Nam lên ngang hàng với các nước phát triển.

Hôm nay, một bài học nữa mà chúng ta càng cần phát huy khi nhìn lại Chiến thắng 30/4. Đó là bài học về sự đoàn kết, đồng lòng. Ngày nay cũng vậy, muốn đi lên, chúng ta phải đoàn kết. Mỗi người một đóng góp, mỗi người một vị trí, nhưng tất cả tập hợp lại thành một trí tuệ Việt Nam trong xây dựng và phát triển đất nước.

Nhà sử học Nguyễn Khắc Thuần cho rằng, để giới trẻ hiểu về những dấu son trong lịch sử như Chiến thắng 30/4, thì cách dạy và học lịch sử rất cần đổi mới, để thổi bùng lên niềm kiêu hãnh về lịch sử hàng nghìn năm để tất cả đều tự hào.

Những dấu son lịch sử, sự kiện lẫy lừng của dân tộc phải được truyền tải cho hậu thế bằng niềm kiêu hãnh.

Việc dạy sử phải cho giới trẻ thấy xuyên suốt các sự kiện lẫy lừng, dân tộc này đã để lại cho hậu thế niềm kiêu hãnh gì và với niềm kiêu hãnh đó họ làm gì để xứng đáng với tiền nhân.

 

Nhà sử học Nguyễn Khắc Thuần nhấn mạnh, tham gia truyền bá lịch sử và những giá trị của dân tộc rất cần vai trò của văn học- nghệ thuật. Chúng ta đã thấy, giới trẻ đón nhận rất nồng nhiệt với các cuốn nhật ký chiến tranh như “Mãi mãi tuổi hai mươi”, “Nhật ký Đặng Thùy Trâm”, các bộ phim “Đừng đốt”, “Mùi cỏ cháy”…

Chúng ta nên sử dụng văn học, nghệ thuật và phim ảnh để góp phần thổi bùng tình yêu đối với lịch sử dân tộc. Một bộ phim hay, một kịch bản hay, một tác phẩm hay sẽ có tác động mạnh mẽ đối với cả một dân tộc, đối với cả một thế hệ. Chúng ta cần huy động tất cả trí tuệ của những người hoạt động trên nhiều lĩnh vực khác nhau, từ điện ảnh, âm nhạc, cho đến hội họa, sân khấu… để tạo được niềm tin vào dân tộc này trong quá trình đi lên đầy thử thách như hôm nay.

Nhà sử học Nguyễn Khắc Thuần lưu ý, chúng ta không nên hiểu sự huy động như là trách nhiệm của những người quản lý quốc gia, mà trước hết từ mỗi người và tất cả, nhận thức được trách nhiệm của mình đối với đất nước, trách nhiệm của mình đối với lịch sử, không chỉ hôm nay mà mãi mãi mai sau.

Theo CTTDTCP

Hải Phòng: Xử sơ thẩm vụ án “hủy hoại tài sản, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”

 Diễn ra từ ngày 8-10/4, phiên toà sơ thẩm vụ án “Hủy hoại tài sản, thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” sẽ xét xử, truy tố 5 bị cáo nguyên là các cán bộ, lãnh đạo có liên quan đến các hành vi vi phạm pháp luật về sử dụng đất và thu hồi đất tại xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, TP Hải Phòng.

Quang cảnh phiên tòa. Ảnh: TTXVN

Hội đồng xét xử do Thẩm phán Trần Thị Thu Hà, Chánh Tòa Hình sự, Tòa án Nhân dân TP Hải Phòng, làm Chủ tọa.

 

Ba bị cáo: Nguyễn Văn Khanh (nguyên Phó Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng); Phạm Xuân Hoa (nguyên Trưởng phòng Tài nguyên Môi trường huyện Tiên Lãng); Lê Thanh Liêm (nguyên Chủ tịch UBND xã Vinh Quang) bị truy tố về tội “Hủy hoại tài sản” theo điểm a, khoản 3, Điều 143 Bộ luật Hình sự (có khung hình phạt từ 7-15 năm tù). Cùng bị truy tố về tội danh này, nhưng Phạm Đăng Hoan (nguyên Bí thư Đảng ủy, Chủ tịch HĐND xã Vinh Quang) bị truy tố theo điểm g, khoản 2, Điều 143 Bộ luật Hình sự (có khung hình phạt từ 2-7 năm tù).

Nguyên Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng Lê Văn Hiền bị truy tố về tội “Thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng” theo khoản 1, Điều 285 Bộ luật Hình sự (có khung hình phạt: cải tạo không giam giữ đến 3 năm, hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 5 năm).

Đại diện hai hộ gia đình là những người bị hại trong vụ án này gồm các ông, bà: Đoàn Văn Vươn ( sinh năm 1963 ) và vợ là Nguyễn Thị Thương (sinh năm 1970); Phạm Thị Báu (tức Hiền, sinh năm 1982, là vợ ông Đoàn Văn Quý) cùng trú tại thôn Thúy Nẻo, xã Bắc Hưng, huyện Tiên Lãng, có mặt tại phiên tòa. Người bị hại Đoàn Văn Quý vắng mặt và có đơn đề nghị Tòa án nhân dân Thành phố Hải Phòng chấp thuận ủy quyền cho ông Đoàn Văn Vươn bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp tại phiên tòa.

Có 5 luật sư bào chữa cho các bị cáo và 3 luật sư bảo vệ quyền lợi cho người bị hại, đều có mặt tại phiên tòa.

Trong buổi sáng, Hội đồng xét xử đã tiến hành thẩm tra căn cước những người có mặt tại phiên tòa; giải thích quyền, nghĩa vụ của các bị cáo, người bị hại, người làm chứng, giám định viên và người có quyền lợi liên quan đến vụ án. Tại phần thủ tục bắt đầu phiên tòa, người bị hại, các bị cáo, các luật sư bào chữa cho các bị cáo, luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị hại, không có yêu cầu triệu tập thêm người làm chứng và xuất trình thêm các tài liệu chứng cứ mới.

Kế hoạch cưỡng chế bị chỉnh sửa

Theo cáo trạng của Viện Kiểm sát Nhân dân TP Hải Phòng, ngày 24/11/2011, UBND huyện Tiên Lãng ban hành Quyết định số 3307/QĐ-UBND áp dụng biện pháp cưỡng chế thu hồi 19,3 ha đất giao nuôi trồng thủy sản tại khu bãi bồi, thuộc địa bàn xã Vinh Quang, huyện Tiên Lãng, đã hết thời hạn sử dụng đối với gia đình ông Đoàn Văn Vươn. Cùng ngày, UBND huyện Tiên Lãng có kế hoạch số 104/KH-UBND về việc tổ chức cưỡng chế để thi hành quyết định thu hồi đất đối với gia đình ông Đoàn Văn Vươn; trong đó nêu rõ nội dung cưỡng chế, bàn giao toàn bộ diện tích đất và công trình gắn liền với đất đã thu hồi cho UBND xã Vinh Quang quản lý.

Để tổ chức thực hiện, Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng Lê Văn Hiền đã giao cho ông Nguyễn Văn Khanh làm Trưởng ban chỉ đạo cưỡng chế; Phạm Xuân Hoa làm Phó Trưởng ban Thường trực; Lê Thanh Liêm cùng một số cán bộ khác làm thành viên Ban Chỉ đạo.

Tuy nhiên, không làm đúng nội dung của các quyết định, kế hoạch trên, Nguyễn Văn Khanh đã trực tiếp chỉnh sửa, ký ban hành thông báo số 225 ngày 28/12/2011 phân công nhiệm vụ cho các tổ công tác để tháo dỡ tài sản ở khu vực có quyết định cưỡng chế.

Tại hiện trường buổi cưỡng chế ngày 5/1/2012, Nguyễn Văn Khanh là người trực tiếp ra lệnh cho Phạm Xuân Hoa, Lê Thanh Liêm, Phạm Đăng Hoan đôn đốc những người được trưng dụng thuộc Tổ công tác cưỡng chế số 2 trực tiếp tháo dỡ lều trông đầm, nhà của gia đình ông Đoàn Văn Vươn, Đoàn Văn Quý. Việc tháo dỡ thực hiện trong 2 ngày 5-6/1/2012 gây thiệt hại về tài sản trị giá trên 295 triệu đồng.

Cáo trạng cũng cáo buộc nguyên Chủ tịch UBND huyện Tiên Lãng Lê Văn Hiền đã thiếu trách nhiệm, không kiểm tra, chỉ đạo, không có biện pháp ngăn chặn kịp thời, để các cán bộ dưới quyền là Nguyễn Văn Khanh cùng đồng phạm thực hiện việc hủy hoại tài sản của các hộ gia đình trên gây hậu quả nghiêm trọng.

Theo congthongtindientu

Đội ngũ sĩ quan phải là lực lượng nòng cốt trong xây dựng quân đội

Đó là ý kiến chỉ đạo của Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị (TCCT) tại Hội nghị tham gia dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan Quân đội nhân dân Việt Nam (QĐNDVN) do Ban Soạn thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan QĐNDVN tổ chức sáng 20-3.

Dự hội nghị có các đồng chí: Thượng tướng Ngô Xuân Lịch, Bí thư Trung ương Đảng, Ủy viên Thường vụ Quân ủy Trung ương, Chủ nhiệm TCCT; Trung tướng Lương Cường, Ủy viên Trung ương Đảng, Phó Chủ nhiệm TCCT và đại biểu các cơ quan chức năng Bộ Quốc phòng (BQP), Quân khu 1, Quân khu 2, Quân khu 3, Quân đoàn 1…

Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều Luật Sĩ quan QĐNDVN được Quốc hội khóa XII, kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 3-6-2008, có hiệu lực thi hành từ ngày 1-7-2008.

Sau gần 5 năm thực hiện, Luật đã cơ bản đáp ứng yêu cầu xây dựng đội ngũ sĩ quan, bảo đảm số lượng và cơ cấu hợp lý, chất lượng được nâng lên; các chế độ, chính sách từng bước được cải thiện, góp phần để quân đội hoàn thành nhiệm vụ chính trị.

 

Capture

 

Tuy nhiên, quá trình tổ chức thực hiện Luật Sĩ quan QĐNDVN năm 2008 đã bộc lộ những khó khăn, vướng mắc và bất cập cần sửa đổi, bổ sung đó là: Chức vụ cơ bản của sĩ quan theo Luật hiện hành là 11 nhóm, trong khi phụ cấp chức vụ lại quy định 14 nhóm, dẫn đến việc chồng chéo, bất cập trong ban hành nghị định, quyết định về nhóm phụ cấp của các chức vụ tương đương còn lại. Tuổi phục vụ tại ngũ theo cấp bậc quân hàm của sĩ quan nữ cấp tá, cấp tướng chưa phù hợp với yêu cầu sử dụng trong thời bình và xây dựng đội ngũ sĩ quan. Cùng với đó, việc phong, tăng quân hàm cấp tướng, theo chỉ đạo của Bộ Chính trị cần đưa các chức vụ có bậc quân hàm cao nhất là cấp tướng vào luật để “luật hóa”, nhằm quy định chặt chẽ việc phong, thăng quân hàm cấp tướng đảm bảo đúng theo quy định của Luật và Hiến pháp. Luật quy định sĩ quan chênh lệch hai bậc quân hàm, hoàn thành tốt nhiệm vụ được xét thăng quân hàm trước thời hạn trong tổ chức thực hiện còn bất cập, thiếu nhất quán, nhất là đối với sĩ quan không giữ chức vụ chỉ huy, quản lý…

Dự thảo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sĩ quan QĐNDVN giữ nguyên 5 chương, 51 điều như Luật hiện hành; trong đó sửa đổi, bổ sung nội dung và sửa về kỹ thuật để phù hợp với văn bản quy phạm pháp luật tại 9 điều, gồm: Điều 2, 11, 13, 15, 17, 18, 25, 35 và 50.

1

Theo đó, tại hội nghị, đại biểu các cơ quan BQP và các đơn vị đã tập trung đóng góp sửa đổi, bổ sung những nội dung đang vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện như: Vị trí, chức năng của sĩ quan; chức vụ của sĩ quan; tuổi phục vụ của sĩ quan; cấp bậc quân hàm cao nhất với chức vụ sĩ quan; thăng quân hàm đối với sĩ quan tại ngũ; thăng quân hàm sĩ quan trước niên hạn; thẩm quyền quyết định đối với sĩ quan; sĩ quan thôi phục vụ tại ngũ…

Các ý kiến cơ bản nhất trí cao với các phương án của Dự thảo Luật Sửa đổi, bổ sung đưa ra, đồng thời cũng nêu lên một số vấn đề như việc quy định tuổi cho đối tượng sĩ quan công tác ở một số cơ quan, đơn vị đặc thù cần kéo dài thời gian. Cần nghiên cứu kỹ trần quân hàm của một số cơ quan BQP cho phù hợp với thực tiễn. Cùng với đó, việc thăng quân hàm cho sĩ quan trước thời hạn phải là lãnh đạo, chỉ huy nếu như chỉ hoàn thành tốt và xuất sắc chức trách, nhiệm vụ thì chưa đủ, cần phải có đủ phẩm chất chính trị, uy tín của tập thể và được bình bầu danh hiệu Chiến sĩ thi đua…

Kết luận hội nghị, Thượng tướng Ngô Xuân Lịch đánh giá cao các ý kiến tham gia đóng góp tâm huyết của các đại biểu, thể hiện tinh thần trách nhiệm chính trị trong đóng góp vào Dự thảo Luật.

Đây là cơ sở quan trọng để Ban Soạn thảo tổng hợp trình Chính phủ và báo cáo trước Quốc Hội. Thượng tướng Ngô Xuân Lịch nhấn mạnh, sĩ quan QĐNDVN là cán bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam, Nhà nước XHCN Việt Nam, do đó việc xây dựng đội ngũ sĩ quan cần hết sức chú ý quan điểm giai cấp trong Quân đội nói chung, đội ngũ sĩ quan nói riêng, để làm sao QĐNDVN trong bất kỳ hoàn cảnh nào cũng mãi mãi là lực lượng chiến đấu trung thành, tin cậy của Đảng, Nhà nước và nhân dân, trong đó đội ngũ sĩ quan phải là lực lượng nòng cốt trong xây dựng quân đội.

Theo QDND

SỰ CẦN THIẾT PHẢI KẾT HỢP GIỮA PHÁT TRIỂN KINH TẾ – XÃ HỘI VỚI TĂNG CƯỜNG CỦNG CỐ QUỐC PHÒNG – AN NINH TRONG GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

       Phillip Tran

          Phát triển kinh tế – xã hội đi đôi với tăng cường củng cố quốc phòng – an ninh là hai nhiệm vụ chính trị quan trọng xuyên suốt luôn đồng hành với nhau trong mọi thời kì giai đoạn của lịch sử. Trong đó, quốc phòng – an ninh là một trong những nhiệm vụ chiến lược quan trọng trong quá trình đưa đất nước đi lên chủ nghĩa xã hội. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay khi tình hình thế giới, tình hình khu vực có nhiều biến động phức tạp, sự tranh chấp chủ quyền biên giới, biển và đảo đang diễn ra gay gắt, gắn phát triển kinh tế – xã hội với củng cố quốc phòng – an ninh là rất quan trọng, cần thiết.

1

          Củng cố quốc phòng – an ninh với sự phát triển kinh tế – xã hội được Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) nêu rõ:  “Sự ổn định và phát triển bền vững mọi mặt đời sống kinh tế – xã hội là nền tảng vững chắc của quốc phòng – an ninh. Phát triển kinh tế – xã hội đi đôi với tăng cường sức mạnh quốc phòng – an ninh. Kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng – an ninh, quốc phòng – an ninh với kinh tế trong từng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách phát triển kinh tế – xã hội và trên từng địa bàn” [*]. Quan điểm này biểu hiện sinh động của mối quan hệ biện chứng, khách quan giữa xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Để giải quyết tốt mối quan hệ này, toàn Đảng, toàn dân, toàn quan ta phải thực hiện tốt việc kết hợp chặt chẽ kinh tế với quốc phòng – an ninh, quốc phòng – an ninh với kinh tế. Sự kết hợp đó sẽ góp phần thiết thực đưa chủ trương của Đảng vào trong cuộc sống, bảo đảm sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc đạt nhiều thành tựu to lớn hơn nữa.

Sự gắn kết chặt chẽ giữa quốc phòng – an ninh với phát triển kinh tế – xã hội là phù hợp với mối quan hệ biện chứng duy vật lịch, là quy luật khách quan của sự phát triển bền vững của mọi quốc gia dân tộc. Sự kết hợp đó dựa trên cơ sở chính là sự tổng hòa, toàn diện về cả trên hai phương hướng: đúc kết lí luận và tổng kết từ thực tiễn công tác xây dựng và bảo vệ Tổ quốc qua các thời kì của lịch sử dân tộc.

1. Cơ sở lí luận của sự kết hợp giữa phát triển kinh tế – xã hội với cũng cố quốc phòng – an ninh.

Một là, kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh là những mặt hoạt động cơ bản của mỗi quốc gia, dân tộc có độc lập, chủ quyền. Trên mỗi lĩnh vực có mục đích, cách thức hoạt động và quy luật riêng, song giữa chúng có mối quan hệ, tác động qua lại lẫn nhau. Trong đó, kinh tế là yếu tố nền tảng tác động đến sự vững mạnh quốc phòng – an ninh; ngược lại, quốc phòng – an ninh cũng có tác động tích cực trở lại với kinh tế, bảo vệ và tạo điều kiện thúc đẩy kinh tế phát triển. Kinh tế quyết định đến nguồn gốc ra đời, sức mạnh của quốc phòng, an ninh. Lợi ích kinh tế suy đến cùng là nguyên nhân làm nảy sinh các mâu thuẫn và xung đột xã hội. Để giải quyết các mâu thuẫn đó, phải có hoạt động quốc phòng – an ninh đi kèm.

Hai là, kinh tế quyết định đến việc cung cấp cơ sở vật chất kĩ thuật, nhân lực cho hoạt động quốc phòng – an ninh. Ăngghen đã khẳng định “Thất bại hay thắng lợi của chiến tranh đều phụ thuộc vào điều kiện kinh tế”. Vì vậy, để xây dựng quốc phòng – an ninh vững mạnh phải xây dựng, phát triển kinh tế. Mặt khác, kinh tế còn quyết định đến việc cung cấp số lượng, chất lượng nguồn nhân lực cho quốc phòng, an ninh, qua đó quyết định đến tổ chức biên chế của lực lượng vũ trang; quyết định đến đường lối chiến lược quốc phòng – an ninh.

Tuy nhiên, quốc phòng – an ninh không chỉ phụ thuộc vào kinh tế mà còn tác động ngược trở lại với kinh tế – xã hội trên cả góc độ tích cực và tiêu cực.

Thứ nhất, quốc phòng – an ninh vững mạnh sẽ tạo môi trường hoà bình, ổn định lâu dài, tạo điều kiện thuận lợi cho phát triển kinh tế – xã hội. Hoạt động quốc phòng – an ninh tiêu tốn đáng kể một phần nguồn nhân lực, vật lực, tài chính của xã hội. Những tiêu dùng này theo Lênin là những tiêu dùng “mất đi”, không quay vào tái sản xuất xã hội. Do đó, sẽ ảnh hưởng đến tiêu dùng của xã hội, ảnh hưởng đến sự phát triển của nền kinh tế.

Thứ hai, hoạt động quốc phòng – an ninh còn có thể dẫn đến huỷ hoại môi trường sinh thái, để lại hậu quả nặng nề cho kinh tế, nhất là khi chiến tranh xảy ra (có sử dụng vũ khí hạt nhân, vũ khí sinh học…). Để hạn chế những tác động tiêu cực này, phải kết hợp tốt tăng cường củng cố quốc phòng – an ninh với phát triển kinh tế – xã hội vào một chỉnh thể thống nhất.

Như vậy, kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng – an ninh là một tất yếu khách quan. Mỗi lĩnh vực hoạt động có nội dung, phương thức riêng nhưng lại có sự thống nhất ở mục đích chung, cái này là điều kiện tồn tại của cái kia và ngược lại. Tuy nhiên, việc kết hợp cần phải được thực hiện một cách khoa học, hợp lí, cân đối và hài hoà.

          2. Cơ sở thực tiễn của sự kết hợp củng cố quốc phòng – an ninh với phát triển kinh tế – xã hội

Lịch sử phát triển của các quốc gia trên thế giới đã chứng minh, dù là nước lớn hay nước nhỏ; kinh tế phát triển hay chưa phát triển; dù chế độ chính trị như thế nào thì mỗi quốc gia cũng đều chăm lo thực hiện kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh, kể cả những nước mà hàng trăm năm nay chưa có chiến tranh. Tuy nhiên, các nước khác nhau, với chế độ chính trị – xã hội khác nhau, điều kiện, hoàn cảnh khác nhau thì sự kết hợp cũng có sự khác nhau về mục đích, nội dung, phương thức và kết quả.

Ở Việt Nam, sự kết hợp đó đã có lịch sử lâu dài. Dựng nước đi đôi với giữ nước là qui luật tồn tại, phát triển của dân tộc ta. Trước kia, để xây dựng và phát triển đất nước, ông cha ta đã có những chủ trương, kế sách thực hiện sự kết hợp phát triển kinh tế – xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng – an ninh trong quá trình dựng nước và giữ nước như các kế sách giữ nước với tư tưởng: “nước lấy dân làm gốc”, “dân giàu, nước mạnh”, “quốc phú binh cường”; thực hiện kế sách “ngụ binh ư nông”, “động vi binh, tĩnh vi dân” để vừa phát triển kinh tế, vừa tăng cường sức mạnh quốc phòng bảo vệ Tổ quốc.

                   Từ khi Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và lãnh đạo cách mạng, do nắm vững quy luật và biết thừa kế kinh nghiệm của lịch sử nên đã thực hiện sự kết hợp phát triển kinh tế, xã hội với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh một cách nhất quán bằng những chủ trương sáng tạo, phù hợp với từng thời kì của cách mạng.

Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược (1945 – 1954): Đảng ta đề ra chủ trương “vừa kháng chiến vừa kiến quốc”, “vừa chiến đấu vừa tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm”; chúng ta đồng thời thực hiện phát triển kinh tế địa phương và tiến hành chiến tranh nhân dân rộng khắp: “xây dựng làng kháng chiến”, địch đến thì đánh, địch lui ta lại tăng gia sản xuất.

Trong cuộc kháng chiến chống Mĩ cứu nước, (1954 – 1975): kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh đã được Đảng ta chỉ đạo thực hiện ở mỗi miền với nội dung và hình thức thích hợp.

Ở miền Bắc, để bảo vệ xã hội chủ nghĩa và xây dựng hậu phương lớn cho miền Nam đánh giặc, Đại hội III của Đảng đã đề ra chủ trương: “trong xây dựng kinh tế, phải thấu suốt nhiệm vụ phục vụ quốc phòng, cũng như trong củng cố quốc phòng phải khéo sắp xếp cho ăn khớp với công cuộc xây dựng kinh tế”.

Ở miền Nam, Đảng ta chỉ đạo quân và dân ta kết hợp chặt chẽ giữa đánh địch với củng cố mở rộng hậu phương, xây dựng căn cứ địa miền Nam vững mạnh. Đây chính là một điều kiện cơ bản bảo đảm cho cách mạng nước ta đi đến thắng lợi.

Ở thời kì này, chúng ta phải tập trung cao độ cho nhiệm vụ xây dựng, bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa và giải phóng miền Nam, nên việc kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng an ninh được thực hiện dưới nhiều hình thức phong phú, sinh động và thiết thực, đã tạo được sức mạnh tổng hợp đánh thắng giặc Mĩ xâm lược và để lại nhiều bài học quí giá cho thời kì sau.

Trong thời kì đất nước độc lập, thống nhất và đi lên chủ nghĩa xã hội (1975 đến nay): Đảng ta khẳng định kết hợp phát triển kinh tế với tăng cường củng cố quốc phòng, an ninh là một nội dung quan trọng trong đường lối xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa và được triển khai trên qui mô rộng lớn hơn, toàn diện hơn.

Như vậy, cũng cố quốc phòng – an ninh phải đi đôi với phát triển kinh tế – xã hội, phát triển kinh tế – xã hội phải gắn với củng cố tăng cường quốc phòng  – an ninh. Đây là hai nhiệm vụ then chốt, quan trọng mà Đảng, Nhà nước và nhân dân ta luôn nhận thức sâu sắc trong tiến trình xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN. Đặc biệt trong giai đoạn hiện nay, đất nước ta đang bước vào thời kì đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng với bối cảnh thế giới đầy biến động, tiềm ẩn nhiều bất trắc, phức tạp, khó lường. Các thế lực thù địch vẫn không ngừng tăng cường thực hiện âm mưu, hoạt động “Diễn biến hòa bình”, bạo loạn lật đổ nhằm xóa bỏ vai trò lãnh đạo của Đảng Công sản Việt Nam. Trong khi đó ở trong nước còn tồn tại, phát sinh nhiều vấn đề tiêu cực, tình trạng tham nhũng, quan liêu, hách dịch, biểu hiện xa rời mục tiêu, lí tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”… đã và đang tác động ảnh hưởng đến vai trò, uy tín lãnh đạo của Đảng, Nhà nước ta. Chính vì vậy, kết hợp giữa phát triển kinh tế – xã hội với củng cố quốc phòng an – an ninh là hai nhiệm vụ quan trọng hàng đầu nhằm đảm bảo cho sự phát triển bền vững của đất nước./.

 

                                                                                       

[*]. Nxb, Chính trị quốc gia Hồ chí Minh (2011), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011).

 

DƯƠNG TỰ TRỌNG VÀ SAI LẦM KHÔNG THỂ THA THỨ.

  Một đại tá giữ một vị trí quan trọng trong ngành mà có vai trò then chốt trong bảo vệ an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội. Ở tuổi 52 , giữ một chức vị quan trọng, Phó giám đốc, Thủ trưởng Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an TP Hải Phòng, có sũy nghĩ của một nhà lãnh đạo , bản lĩnh chính trị vững vàng, nhưng Dương Tự Trọng là không làm tròn trách nhiệm của một chiến sỹ Công an nhân dân, không chỉ vậy còn có hành vi tổ chức cho người khác trốn đi nước ngoài .

Đại tá Dương Tự Trọng bị bắt giam về hành vi “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài”, theo Điều 275 Bộ luật Hình sự. Cùng ngày, cơ quan điều tra khám xét nơi làm việc và chỗ ở của đại tá Dương Tự Trọng (52 tuổi) tại Hà Nội. Đồng thời, Bộ Công an ra quyết định tước quân tịch CAND đối với ông Dương Tự Trọng, ông chính là một mắt xích quan trọng trong đường dây tổ chức cho nguyên Cục trưởng Cục Hàng hải Việt Nam Dương Chí Dũng bỏ trốn.
          Thông tin đại tá Dương Tự Trọng bị bắt đã làm xôn xao dự luận cả nước , sau khi Dương Chí Dũng trốn thoát thì cũng có nhiều tin đồn rằng việc Dương Chí Dũng chạy trốn thành công có sự tiếp tay của đại tá Dương Chí Dũng , và bây giớ thì mọi chuyện đã sáng tỏ, Dương Tự Trọng đã sa vào vòng lao lý.
Người dân đất Cảng không xa lạ gì với cái tên Dương Tự Trọng, bởi ông nổi tiếng là một cán bộ cảnh sát hình sự giỏi nghề. Thời gian làm Trưởng phòng Cảnh sát Hình sự rồi sau đó là Phó giám đốc Công an Hải Phòng, ông Trọng từng trực tiếp chỉ đạo nhiều chuyên án lớn, triệt phá các băng ổ nhóm giang hồ cộm cán đất Cảng.
Đại tá Dương Tự Trọng còn được nhiều người biết đến không phải tư cách là một sĩ quan công an mà là một người đam mê nghệ thuật. Ông Trọng thường sáng tác thơ, nhạc và đã được đăng tải trên một số báo, tạp chí.
          Vậy và giờ đây người dân đất cảng không khỏi xôn xao , thất vọng trước hành vi của vị đại tá đáng kính đó, đại tá Dương Tự Trọng đã phạm một sai lầm vô cùng lớn mà không thể quay lại,được, niềm tin của nhân dân vào ông đa bị mất.Trong sự nghiệp của đại tá Dương Tự Trọng, ông này đã từng trực tiếp vận động được rất nhiều người thân của tội phạm động viên chúng ra đầu thú. Tuy vậy, khi chính người thân của mình phạm tội thì ông Trọng lại tổ chức cho anh trai bỏ trốn.
          Chỉ một lỗi lầm là không thể quay lại được.
Theo CDV